LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3
CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lịch sử Việt Nam t50

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:45' 09-03-2024
Dung lượng: 8.9 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:45' 09-03-2024
Dung lượng: 8.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chủ biên
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Biên soạn
LÊ VĂN NĂM
Họa sĩ
NGUYỄN HUY KHÔI
LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH
TẬP 50
CHÚA SÃI
CHÚA THƯỢNG
N H Đ X U ẤT B Ả N T R Ẻ
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: NGUYỄN HUY KHÔI
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Chúa Sãi chúa Thượng / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Huy Khôi. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2011.
92tr. : minh họa ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.50).
1. Nguyễn Phúc Nguyên, 1563-1635. 2. Tiểu thuyết lịch sử — Việt Nam. 3. Việt Nam
— Lịch sử — 1592-1788 — Tiểu thuyết. 4. Việt Nam — Lịch sử — Nguyễn Phúc Nguyên,
1613-1635 — Tiểu thuyết. 5. Việt Nam — Vua và quần thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn
Năm. III. Nguyễn Huy Khôi m.h. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
959.70272092 — dc 22
C559
Lời giới thiệu
Sau khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng tạ thế, Nguyễn Phúc
Nguyên nối nghiệp chúa. Được sự giúp đỡ của các công
thần, đặc biệt là sự phò trợ của Đào Duy Từ, người đã
ra sức hoàn thiện việc cai trị, phát triển nông nghiệp,
sửa thành lũy, đặt quan ải, thu phục lòng người ở mảnh
đất phương nam. Nguyễn Phúc Nguyên tấm lòng nhân
từ, được dân xưng tụng là chúa Sãi, hay còn gọi là
chúa Phật.
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mất, thế tử Nguyễn
Phúc Lan lên thay, được nhân dân yêu mến gọi là chúa
Thượng. Lên nắm chính quyền, chúa Thượng dùng nhân
đức cai trị, bấy giờ vùng đất phương nam mưa nắng
thuận hòa, dân giàu nước thịnh, cảnh thái bình ở khắp
chốn.
Tập 50 của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chúa
Sãi, chúa Thượng” phần lời do Lê Văn Năm biên soạn,
phần hình ảnh do họa sĩ Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ trân trọng giới thiệu tập 50 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh đến độc giả.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) là vị chúa thứ hai
của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
Ông ở ngôi từ năm 1614 đến năm 1635. Trong thời ở
ngôi, ông đã từng bước xây dựng một chính quyền độc
lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai với chính quyền
Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài.
Sau khi chúa Sãi mất, chúa Thượng Nguyễn Phúc
Lan (1600-1648) lên ngôi, nối tiếp con đường của cha.
Chúa Thượng là người dùng đức cai trị nên ở Đàng
Trong những năm ấy mưa thuận gió hòa, dân chúng
no đủ. Ông ở ngôi chúa 13 năm, mất trên thuyền ở phá
Tam Giang, khi trên đường rút quân về lại Phú Xuân.
Nguyễn Phúc Nguyên sinh ngày
28 tháng 7 năm Quý Hợi, tức ngày 16
tháng 8 năm 1563. Khi lên nối nghiệp
chúa, ông đã 51 tuổi. Tuy là con thứ
nhưng ông được lên nối nghiệp vì
trong các người anh của ông, ngoài
bốn người đã mất thì chỉ còn lại một
người anh thứ năm là Công tử Hải
đang ở Đàng Ngoài làm con tin.
5
Tương truyền: Mẹ chúa
Sãi nằm mộng thấy một
vị tiên tặng cho bà một
chữ Phúc, sau đó liền thụ
thai. Khi sinh hạ, bà lấy chữ
“Phúc” đặt làm tên lót của
ông. Từ đó, tên con cháu của
chúa Nguyễn đều lót thêm chữ
Phúc (hoặc Phước)(*). Sỡ dĩ ông
được gọi là chúa Sãi vì ông là
người nhân hậu, yêu thương nhân
dân, lại sùng đạo Phật nên được
dân chúng gọi là chúa Sãi
hay chúa Phật.
* Trong tiếng Hán, chữ Phúc
và chữ Phước là một chữ.
6
Lên làm chúa, Nguyễn Phúc Nguyên tiến hành việc xây dựng
chính quyền độc lập ở miền Nam. Năm 1614, ông cho tổ chức lại
bộ máy cai trị, thải hồi quan lại do chúa Trịnh cử vào trước đây,
thay vào đó là những người thân tín của mình.
7
Năm 1626, chúa Sãi cho dời lỵ sở vào làng Phước Yên (nay
thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế),
cách Cát Dinh đến 40km về phía nam. Nơi đây có phá Tam Giang
hiểm trở và các tiểu đồn đã lập trước đây ở Ái
Tử, Trà Bát, Cát Dinh án ngữ, có thể bảo vệ
trung tâm đầu não ở Đàng Trong khi có
chiến tranh xảy ra.
Sau khi dời dinh về làng Phước Yên,
chúa Sãi cho gọi nơi đây là phủ để ngang
hàng với phủ(*) chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
* Phủ là nơi ở dành riêng cho những người
mang tước vương.
8
Năm Giáp Dần (1614), chúa lập Tam ty để hoàn thiện bộ máy
hành chính. Ở chính Dinh, Tam ty gồm: ty Xá sai, do Đô tri và
Ký lục phụ trách, coi việc thi hành luật pháp, kiện tụng, xử án;
ty Tướng thần do Cai bạ đứng đầu, coi việc trưng thu tiền thóc,
phát lương cho binh lính; ty Lệnh sử coi việc tế tự, lễ tiết và chi
cấp lương thực cho quân đội ở Chính dinh, đứng đầu là Nha úy. Ở
mỗi ty lại có 3 Câu kê, 7 Cai hợp, 10 Thủ hợp, 40 Ty lại. Ngoài
ra, còn có Nội Lệnh sử và Tả, Hữu Lệnh sử phụ trách thu thuế.
9
Ở các dinh ngoài, có nơi chỉ đặt một ty Lệnh sử, có nơi đặt hai
ty: Xá sai và tướng thần, có nơi lại đặt ty Xá sai và Lệnh sử để
trông coi việc xét xử tra án, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế
ruộng ở nơi sở tại. Ở mỗi nơi, lại tùy theo công việc mà thêm bớt
người phụ trách.
10
Các quan lại ở Đàng Trong không được cấp lương bổng mà
chỉ được cấp ruộng (gọi là lộc điền) để thu hoa lợi. Quan lại tùy
theo cấp bậc mà được cấp ruộng nhiều hay ít nhưng thường không
quá 10 mẫu.
11
Lúc đầu, người làm quan thường là con cháu quý tộc, công
thần hoặc do người có uy tín tiến cử lên chúa. Nhưng sau đó, việc
chọn người làm quan thông qua thi cử được áp dụng. Năm 1632,
chúa Sãi quy định cứ đến kỳ tuyển lính thì học trò ở các huyện
cũng qui tụ về trấn dinh để khảo thí. Thí sinh phải làm một bài
thơ, một đạo văn sách (văn chính luận), hạn trong một ngày phải
làm xong. Người thi đỗ được gọi là Nhiêu học, miễn thuế thân
năm năm. Kì ấy gọi là “quận thí mùa xuân”. Lại thi viết chữ Hán,
người nào tiếp tục đỗ thì bổ làm việc ở các ty.
12
Nông nghiệp rất được chúa Nguyễn chú trọng. Nguyên vùng
đất nằm rải rác ven biển từ Thuận Hóa đến Bình Thuận là những
vùng đồng bằng nhỏ hẹp, thường xuyên xảy ra bão lụt. Đa số ruộng
ở đây chỉ cấy được một vụ vào mùa hạ, một số ít ruộng cấy được
vụ thu. Tuy thế, với sức cần cù và sự khuyến khích của chúa Sãi,
nông dân vẫn có những vụ mùa bội thu.
13
Do bấy giờ, xảy ra tình trạng cường hào, địa chủ chiếm ruộng
đất công để làm lợi riêng nên năm Mậu Ngọ (1618), chúa Sãi
cho tiến hành đo đạc ruộng đất ở các xã, xác định chủ quyền từng
miếng ruộng. Miếng nào của dân, miếng nào của công đều được
phân minh. Nhờ thế, nạn tranh chấp đất đai mới chấm dứt.
14
Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, việc khai khẩn
đất hoang cũng được tiến hành. Từ năm 1620, lưu
dân người Việt đã vào đây sinh sống nhờ chúa
Nguyễn đã tạo được mối quan hệ thân thiết với vua
Chân Lạp là Chey Chetta II. Nguyên trước đây, các vua
Chân Lạp thường bị Xiêm chi phối. Vua Borommarach
VIII lại muốn áp dụng phong tục của Xiêm nên bị các
đại thần và dân chúng phản đối, ông phải thoái vị năm
1618, nhường ngôi cho con là Chey Chetta II.
15
Chey Chetta II muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Xiêm nên cho
dời đô xa lãnh thổ của Xiêm, về phía Tây Nam là Oudong. Ông
cưới một người con gái của chúa Nguyễn làm hoàng hậu để mong
nhận được sự ủng hộ từ phía Đàng Trong. Việc này đem đến cho
chúa Nguyễn cơ hội phát triển ảnh hưởng của mình ở phương nam.
16
Năm Canh Thân (1620), chúa Sãi gả công nương Ngọc Vạn
cho Chey Chetta II. Sau đó ba năm (1623), một sứ bộ của Đàng
Trong được chúa Sãi gửi đến Oudong đàm phán với Chey Chetta
II cho chúa Nguyễn lập một trạm thu thuế ở Ney Nokor, tức Sài
Gòn – thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
17
Từ đó, người Việt đến vùng
đồng bằng phì nhiêu này lập
nghiệp ngày càng đông. Họ là
những người phiêu lưu, những
nông dân nghèo khó, những
người trốn tránh quân dịch,
những tín đồ Thiên Chúa giáo
và cả những binh lính trong đoàn
quân của chúa Nguyễn vào nam
nhưng vì lý do nào đó không trở
về quê... Luồng di dân tự phát
này diễn ra liên tục trong thế
kỷ XVII, XVIII.
18
Ngoài việc gả con gái Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp để xây
dựng tình đoàn kết láng giềng, chúa Sãi còn gả người con gái thứ
hai của mình là Ngọc Khoa cho vua Chămpa – Pô Romê – để tạo
tình hòa hiếu với dân tộc này. Như thế là hai người con gái của
chúa Sãi cũng như Huyền Trân công chúa, vì bổn phận với đất
nước mà rời xa Tổ quốc.
19
Thủ công nghiệp cũng được chúa Sãi khuyến khích phát triển.
Bản thân chúa Sãi cũng thành lập các xưởng thủ công, gọi là
Tượng cuộc. Thợ làm việc tại các Tượng cuộc là thợ khéo ở mọi
nơi được tuyển chọn vào. Họ được tổ chức thành đội ngũ, được
cấp phát tiền gạo như binh lính và làm việc theo chỉ thị của chúa.
20
Cách sản xuất được tổ chức theo nhóm được phân công rõ ràng.
Để tạo nên một khẩu súng, phải có nhiều nhóm thợ phối hợp với
nhau. Thợ đúc chỉ đúc lòng súng còn đinh súng thì thợ rèn làm,
báng súng thì do thợ mộc,... Các phụ tùng bằng bạc hay vàng thì
do thợ trong các ty ngân tượng, kim tượng thực hiện.
21
Khoáng sản được khai thác chủ yếu ở Đàng Trong lúc bấy giờ
là sắt và vàng. Mỏ sắt được khai thác ở xã Phú Bài, huyện Phú
Xuân, phủ Triệu Phong (nay thuộc Thừa Thiên – Huế). Mỏ vàng
có ở nhiều nơi, nhiều nhất ở Quảng Nam. Các mỏ vàng nổi tiếng
dưới thời chúa Tiên ở núi Trà Nô, Trà Tế thuộc huyện Duy Xuyên,
phủ Thăng Hoa vẫn tiếp tục được khai thác. Ngoài ra, còn nhiều
mỏ vàng khác ở phủ Triệu Phong, phủ Thăng Hoa, phủ Qui Nhơn.
22
Việc khai thác vàng lúc này còn tương đối đơn giản, không đòi
hỏi trình độ kỹ thuật cao. Người khai mỏ đào sâu hai trượng là
đến lớp đất có vàng. Họ lấy đất ấy đổ vào chậu rồi ra suối mà đãi.
Nước cuốn đi đất cát, để lại dưới đáy chậu là những mẩu vàng lấp
lánh. Thường là một gánh đất đãi ra được một phân vàng 9,10 tuổi.
23
Để kiểm soát và giúp đỡ những người đãi vàng, chúa cho tập
hợp họ lại thành đơn vị gọi là “thuộc”. Vì khai thác vàng nên tổ
chức này được gọi là “Thuộc kim hộ”. Mỗi thuộc có hơn 40 thôn,
chỉ gồm dân chuyên khai mỏ. Những người này được miễn lính,
nhưng phải nộp thuế bằng vàng, mỗi người hai hoặc ba đồng cân.
Nếu họ may mắn đãi được nhiều vàng thì họ vẫn đóng thuế như
cũ nhưng năm nào không đào được vàng thì phải đóng thuế bốn
quan tiền.
24
Việc buôn bán, thương mại cũng rất phát triển. Cảng Hội An
ngày càng trù phú, tàu buôn bán nước ngoài ra vào tấp nập. Có
khi trên bến cảng có hàng trăm chiếc thuyền buôn đậu chật sông,
cột buồm chi chít như rừng cây.
25
Mùa mua bán ở Hội An thường mở đầu cùng với năm mới âm
lịch. Vào những ngày sau Tết, tàu buôn cậåp bến Hội An, rộn ràng
hoạt động trong vòng 6 tháng. Sau đó, tàu nhổ neo, để lại thuyền
viên trên bờ. Người này có nhiệm vụ đi lùng kiếm mua hàng hóa.
Từ Hội An, họ tỏa đi khắp nơi để mua hàng và cũng từ khắp nơi
ở Đàng Trong, hàng hóa chảy về để đón tàu.
26
Để kiểm soát công việc buôn bán ở Hội An cùng việc cứu
giúp các thương thuyền nước ngoài bị gió bão, chúa Nguyễn đặt
ở Hội An một cơ quan gọi là ty Tàu vụ và chọn lựa những người
có kinh nghiệm trên thương trường để giữ những nhiệm vụ quan
trọng trong ty này. Vì người Minh Hương (con cháu của người
Trung Hoa sinh sống trên đất Đại Việt) thông thạo công việc này
nên thường được chúa lựa chọn.
27
Họ có nhiệm vụ định giá hàng, kiểm soát
việc đo lường và đồng thời làm phiên dịch
cho các thuyền buôn Trung Hoa. Mỗi chiếc
thuyền buôn sẽ phải đóng thuế tùy theo
quốc tịch. Thuyền phải nộp thuế cao nhất
là thuyền của người Tây Dương, thuyền
của các nước Đông Nam Á thì được áp
thuế rẻ hơn. Thuyền nào giấu giếm hàng
hóa thì bị tịch thu, sung công.
28
Thương buôn Trung Hoa thường mang tơ lụa tốt và sản
vật đến Hội An buôn bán. Tơ lụa của họ rất được thương
buôn Nhật Bản ưa chuộng và mua về rất nhiều. Có việc
buôn bán giữa thương nhân nước ngoài như vậy là vì
hoàng đế Trung Hoa cấm công dân của mình đến
Nhật Bản mua bán nên người Nhật phải mua hàng
hóa của Trung Hoa ở Hội An.
29
Còn việc buôn bán của người Bồ Đào Nha ngày càng phát đạt,
họ gần như độc quyền cung cấp vũ khí cho chúa Nguyễn. Vào
năm 1626, người Bồ mở rộng việc buôn bán của mình ra Đàng
Ngoài và được chúa Trịnh tiếp đãi niềm nở.
30
Người Nhật thì vẫn chú trọng đến thị trường Đàng
Trong. Những thuyền buôn từ Nagasaki đến Hội An
vẫn đi lại như con thoi. Họ không những mua
hàng hóa từ Đàng Trong mà còn thu mua tơ
lụa của thương nhân Trung Quốc. Hội An trở
thành trạm trung chuyển xuất nhập khẩu hàng
hóa cho người Nhật. Họ đến cư ngụ ngày càng
đông ở Hội An và giữ vai trò quan trọng
trong việc buôn bán thời kỳ này.
31
Công việc làm ăn phát đạt, họ xây tại đây một chiếc cầu độc
đáo, tên gọi là Lai Viễn Kiều, có ý nghĩa là cây cầu của những
người từ phương xa đến, đánh dấu sự hiện diện một thời của người
Nhật trên đất Hội An. Và một tên gọi khác là “chùa Cầu” vì chiếc
cầu cũng đồng thời là chùa.
32
33
Cầu nằm vắt ngang một con lạch chảy ra sông Thu Bồn, rộng
3m, làm bằng gỗ. Mặt cầu cong vòng lên tạo khoảng không cho
ghe thuyền qua lại dưới lạch. Đăc biệt, cầu có mái che mềm mại
tạo được chỗ trú mưa, trú nắng cho người đi đường hoặc có khi
dùng làm chỗ họp chợ.
34
Ở hai đầu cầu có hai tượng chó và khỉ đứng chầu. Tượng khỉ ở
đầu tây, tượng chó ở đầu đông. Mặt cầu chia làm ba lối đi. Ở giữa
là đường chính, trước đây dùng cho xe cộ đi lại. Hai bên có lối
nhỏ với lan can bằng gỗ sơn son. Một bên lối đi là khoảng không
gian dùng làm chùa, có tượng Bắc Đế cưỡi trên lưng con “cù”(*).
* Là con vật huyền thoại, có hình dáng tựa rồng. Người Nhật tin rằng đầu con
cù nằm ở Ấn Độ, lưng cù nằm vắt ra Hội An còn đuôi cù ở Nhật Bản. Khi nào
cù quẫy đuôi thì nước Nhật bị động đất. Muốn nước Nhật tránh được thiên tai
này, người Nhật xây chùa trên lưng cù, không cho nó quẫy đuôi, làm cho nước
Nhật bình yên.
35
Công việc buôn bán của người Nhật ở Đàng Trong đang phát
đạt thì bỗng nhiên năm 1636, Tướng quân (Shogun) của Nhật
Bản cấm công dân nước này xuất ngoại. Thương nhân người Nhật
không thể nào đến Hội An được nữa. Trong khi đó, số thương
nhân người Hoa ở Hội An không ngừng tăng lên và từ giữa thế
kỷ XVII đã có nhiều người cư ngụ ở Hội An, chiếm vai trò quan
trọng trong đời sống thương mại.
36
Người Việt ở Hội An cũng có nhiều công trình kiến trúc rất
độc đáo. Vì sống ở nơi đô hội nên người Việt ở đây đã tạo nên
những kiểu nhà phố thích hợp, vừa là chỗ buôn bán, vừa là nơi
sinh sống và nghỉ ngơi. Đây là kiểu kiến trúc tận dụng chiều sâu
và chiều cao vì mặt bằng khống chế, không được rộng rãi trong
không gian đô thị.
37
38
Đó là những căn nhà hình ống, phía trước phía sau đều có
cửa. Nhà có mái ngói âm dương và tường bao quanh. Phần trước
của nhà được dùng làm cửa hàng. Kế đó là phần giếng trời để
nhà có gió và nắng. Tại đây, người ta trồng một ít cây kiểng,
một ít hoa, tạo một mảng thiên nhiên trong nhà. Sau giếng trời
là phần nhà sau, nơi gia đình sinh hoạt, sum vầy. Và cuối cùng
là sân sau, nơi dành cho việc bếp núc và vệ sinh.
39
Ngoài ra, Hội An còn có những ngôi đình uy nghiêm với cây
đa in bóng mát và những ngôi chùa do người Hoa lập nên. Kiến
trúc Việt, kiến trúc Nhật, kiến trúc Hoa hòa lẫn vào nhau, cùng
với việc buôn bán phồn thịnh, tất cả tạo nên một Hội An đô hội
vào bậc nhất thời ấy tại Đại Việt.
40
Hội An là nơi gặp gỡ của các nền văn hóa, là nơi phát sinh việc
phiên âm chữ quốc ngữ. Để việc truyền đạo được dễ dàng, các giáo
sĩ Tây phương đến Hội An đã học nói tiếng Việt và đã tìm cách
ghi lại tiếng Việt nhằm phục vụ việc học tập được dễ dàng hơn.
Trong khi ghi lại tiếng Việt, họ đã dùng các chữ cái Latinh quen
thuộc của mình. Vì vậy, chữ quốc ngữ được hình thành.
41
Năm 1621, hai giáo sĩ Christoforo Borris (người Ý) và Francesco
de Pina (người Bồ Đào Nha) đã cùng nhau soạn một cuốn kinh
bằng lối chữ viết này. Sau đó, dựa trên kết quả của những người
đi trước, giáo sĩ Gaspal d'Amaral soạn quyển tự vị Việt – Bồ, giáo
sĩ Antonio Barbosa soạn quyển tự vị Việt – Latinh. Trên cơ sở đó,
Alexandre de Rhodes đã hoàn thành cuốn từ điển nổi tiếng Việt –
Bồ – La, xuất bản ở Ý giữa thế kỷ XVII. Ngoài ra, Alexandre de
Rhodes còn viết quyển Phép giảng tám ngày bằng chữ quốc ngữ.
42
Trong suốt hơn 200 năm kể từ khi ra đời, chữ quốc ngữ là công
cụ của một số giáo sĩ ngoại quốc và các chức sắc trong đạo để
phục vụ cho việc truyền đạo. Chỉ sau này, khi việc học chữ Nho
bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ mới có địa vị như ngày hôm nay.
43
Công việc truyền đạo của
các giáo sĩ Thiên Chúa giáo
vẫn được tiến hành đều đặn
ở Đàng Trong. Họ thường
theo thuyền buôn đến Đàng
Trong và tận dụng lúc tàu neo
đậu tại bến, họ giảng đạo cho
người bản xứ. Tuy thế, việc
truyền đạo không tiến triển.
Chỉ đến năm 1615, do việc
giảng đạo tại Nhật bị cấm vận
gay gắt, nhiều giáo sĩ không
đến được Nhật nên họ đã
được phái đến Đại Việt.
44
Năm 1615, năm tu sĩ thuộc dòng Tên đến Đà Nẵng, được chúa
Nguyễn cho phép giảng đạo và lập nhà thờ. Sau đó, họ vào Hội
An. Trong những năm sau, có đến vài mươi giáo sĩ dòng Tên đến
Đàng Trong. Các giáo sĩ này đã học tiếng Việt để có thể giảng
đạo và thành lập đội ngũ thầy giảng người Việt.
45
Trong số các giáo sĩ ấy, phải nhắc đến Christoforo Borris và
Alexandre de Rhodes. Christoforo Borris là người Ý, đến Đàng
Trong năm 1618 và viết một quyển sách xuất bản năm 1631, miêu
tả về đất nước cũng như sinh hoạt của nhân dân ta thời bấy giờ.
Alexandre de Rhodes là một giáo sĩ dòng Tên người Pháp, đến
Đàng Trong 1624. Chỉ trong vòng 6 tháng, ông đã có thể dùng
tiếng Việt để giảng đạo một cách thông thạo.
46
Đến năm 1627, ở Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes đã làm lễ
rửa tội cho rất nhiều người, trong đó có nhiều người là dòng dõi
hoàng tộc và các chúa. Như thế, trong giai đoạn này, các giáo sĩ
đến truyền đạo được tiếp đón niềm nở ở cả Đàng Trong lẫn Đàng
Ngoài. Qua sự ưu đãi đó, chúa Nguyễn và chúa Trịnh đều muốn
lôi kéo các thương thuyền phương Tây đến mua bán.
47
Nhưng cũng giống như Trung Quốc, Nhật Bản, sự phát triển
của đạo Thiên Chúa đã làm cho các chúa quan ngại. Việc hành
đạo của tôn giáo này khác với các phong tục cổ truyền, chẳng
hạn như không thờ cúng tổ tiên. Thêm nữa, sự tập trung của các
giáo dân và sự phục tùng tuyệt đối của họ vào những người ngoại
quốc cũng làm cho chúa lo ngại. Vì thế, chúa Trịnh cũng như
chúa Nguyễn đã hạn chế việc truyền bá và dần dần đi đến cấm
đạo. Năm 1627, chúa Sãi cho tập trung các giáo sĩ tại Hội An để
dễ kiểm soát. Sau đó, đến khi chúa Thượng đã ban lệnh cấm đạo
năm 1631. Ở Đàng Ngoài, Trịnh Tráng trục xuất Alexandre de
Rhodes vào năm 1630 và ra lệnh cấm đạo vào năm 1643.
48
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, việc cấm đạo vẫn chưa gắt gao
vì các chúa muốn lôi kéo thương nhân đến buôn bán, đem đến
những mặt hàng phục vụ cho chiến tranh cũng như nhu cầu xa xỉ
của triều đình. Chính vì thế, việc cấm đạo từng lúc gắt gao hay
nới lỏng tùy các tàu buôn có đến đều đặn hay không.
49
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Biên soạn
LÊ VĂN NĂM
Họa sĩ
NGUYỄN HUY KHÔI
LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH
TẬP 50
CHÚA SÃI
CHÚA THƯỢNG
N H Đ X U ẤT B Ả N T R Ẻ
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: NGUYỄN HUY KHÔI
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Chúa Sãi chúa Thượng / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn ; họa sĩ
Nguyễn Huy Khôi. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2011.
92tr. : minh họa ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.50).
1. Nguyễn Phúc Nguyên, 1563-1635. 2. Tiểu thuyết lịch sử — Việt Nam. 3. Việt Nam
— Lịch sử — 1592-1788 — Tiểu thuyết. 4. Việt Nam — Lịch sử — Nguyễn Phúc Nguyên,
1613-1635 — Tiểu thuyết. 5. Việt Nam — Vua và quần thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn
Năm. III. Nguyễn Huy Khôi m.h. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
959.70272092 — dc 22
C559
Lời giới thiệu
Sau khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng tạ thế, Nguyễn Phúc
Nguyên nối nghiệp chúa. Được sự giúp đỡ của các công
thần, đặc biệt là sự phò trợ của Đào Duy Từ, người đã
ra sức hoàn thiện việc cai trị, phát triển nông nghiệp,
sửa thành lũy, đặt quan ải, thu phục lòng người ở mảnh
đất phương nam. Nguyễn Phúc Nguyên tấm lòng nhân
từ, được dân xưng tụng là chúa Sãi, hay còn gọi là
chúa Phật.
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mất, thế tử Nguyễn
Phúc Lan lên thay, được nhân dân yêu mến gọi là chúa
Thượng. Lên nắm chính quyền, chúa Thượng dùng nhân
đức cai trị, bấy giờ vùng đất phương nam mưa nắng
thuận hòa, dân giàu nước thịnh, cảnh thái bình ở khắp
chốn.
Tập 50 của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chúa
Sãi, chúa Thượng” phần lời do Lê Văn Năm biên soạn,
phần hình ảnh do họa sĩ Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ trân trọng giới thiệu tập 50 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh đến độc giả.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) là vị chúa thứ hai
của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
Ông ở ngôi từ năm 1614 đến năm 1635. Trong thời ở
ngôi, ông đã từng bước xây dựng một chính quyền độc
lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai với chính quyền
Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài.
Sau khi chúa Sãi mất, chúa Thượng Nguyễn Phúc
Lan (1600-1648) lên ngôi, nối tiếp con đường của cha.
Chúa Thượng là người dùng đức cai trị nên ở Đàng
Trong những năm ấy mưa thuận gió hòa, dân chúng
no đủ. Ông ở ngôi chúa 13 năm, mất trên thuyền ở phá
Tam Giang, khi trên đường rút quân về lại Phú Xuân.
Nguyễn Phúc Nguyên sinh ngày
28 tháng 7 năm Quý Hợi, tức ngày 16
tháng 8 năm 1563. Khi lên nối nghiệp
chúa, ông đã 51 tuổi. Tuy là con thứ
nhưng ông được lên nối nghiệp vì
trong các người anh của ông, ngoài
bốn người đã mất thì chỉ còn lại một
người anh thứ năm là Công tử Hải
đang ở Đàng Ngoài làm con tin.
5
Tương truyền: Mẹ chúa
Sãi nằm mộng thấy một
vị tiên tặng cho bà một
chữ Phúc, sau đó liền thụ
thai. Khi sinh hạ, bà lấy chữ
“Phúc” đặt làm tên lót của
ông. Từ đó, tên con cháu của
chúa Nguyễn đều lót thêm chữ
Phúc (hoặc Phước)(*). Sỡ dĩ ông
được gọi là chúa Sãi vì ông là
người nhân hậu, yêu thương nhân
dân, lại sùng đạo Phật nên được
dân chúng gọi là chúa Sãi
hay chúa Phật.
* Trong tiếng Hán, chữ Phúc
và chữ Phước là một chữ.
6
Lên làm chúa, Nguyễn Phúc Nguyên tiến hành việc xây dựng
chính quyền độc lập ở miền Nam. Năm 1614, ông cho tổ chức lại
bộ máy cai trị, thải hồi quan lại do chúa Trịnh cử vào trước đây,
thay vào đó là những người thân tín của mình.
7
Năm 1626, chúa Sãi cho dời lỵ sở vào làng Phước Yên (nay
thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế),
cách Cát Dinh đến 40km về phía nam. Nơi đây có phá Tam Giang
hiểm trở và các tiểu đồn đã lập trước đây ở Ái
Tử, Trà Bát, Cát Dinh án ngữ, có thể bảo vệ
trung tâm đầu não ở Đàng Trong khi có
chiến tranh xảy ra.
Sau khi dời dinh về làng Phước Yên,
chúa Sãi cho gọi nơi đây là phủ để ngang
hàng với phủ(*) chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
* Phủ là nơi ở dành riêng cho những người
mang tước vương.
8
Năm Giáp Dần (1614), chúa lập Tam ty để hoàn thiện bộ máy
hành chính. Ở chính Dinh, Tam ty gồm: ty Xá sai, do Đô tri và
Ký lục phụ trách, coi việc thi hành luật pháp, kiện tụng, xử án;
ty Tướng thần do Cai bạ đứng đầu, coi việc trưng thu tiền thóc,
phát lương cho binh lính; ty Lệnh sử coi việc tế tự, lễ tiết và chi
cấp lương thực cho quân đội ở Chính dinh, đứng đầu là Nha úy. Ở
mỗi ty lại có 3 Câu kê, 7 Cai hợp, 10 Thủ hợp, 40 Ty lại. Ngoài
ra, còn có Nội Lệnh sử và Tả, Hữu Lệnh sử phụ trách thu thuế.
9
Ở các dinh ngoài, có nơi chỉ đặt một ty Lệnh sử, có nơi đặt hai
ty: Xá sai và tướng thần, có nơi lại đặt ty Xá sai và Lệnh sử để
trông coi việc xét xử tra án, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế
ruộng ở nơi sở tại. Ở mỗi nơi, lại tùy theo công việc mà thêm bớt
người phụ trách.
10
Các quan lại ở Đàng Trong không được cấp lương bổng mà
chỉ được cấp ruộng (gọi là lộc điền) để thu hoa lợi. Quan lại tùy
theo cấp bậc mà được cấp ruộng nhiều hay ít nhưng thường không
quá 10 mẫu.
11
Lúc đầu, người làm quan thường là con cháu quý tộc, công
thần hoặc do người có uy tín tiến cử lên chúa. Nhưng sau đó, việc
chọn người làm quan thông qua thi cử được áp dụng. Năm 1632,
chúa Sãi quy định cứ đến kỳ tuyển lính thì học trò ở các huyện
cũng qui tụ về trấn dinh để khảo thí. Thí sinh phải làm một bài
thơ, một đạo văn sách (văn chính luận), hạn trong một ngày phải
làm xong. Người thi đỗ được gọi là Nhiêu học, miễn thuế thân
năm năm. Kì ấy gọi là “quận thí mùa xuân”. Lại thi viết chữ Hán,
người nào tiếp tục đỗ thì bổ làm việc ở các ty.
12
Nông nghiệp rất được chúa Nguyễn chú trọng. Nguyên vùng
đất nằm rải rác ven biển từ Thuận Hóa đến Bình Thuận là những
vùng đồng bằng nhỏ hẹp, thường xuyên xảy ra bão lụt. Đa số ruộng
ở đây chỉ cấy được một vụ vào mùa hạ, một số ít ruộng cấy được
vụ thu. Tuy thế, với sức cần cù và sự khuyến khích của chúa Sãi,
nông dân vẫn có những vụ mùa bội thu.
13
Do bấy giờ, xảy ra tình trạng cường hào, địa chủ chiếm ruộng
đất công để làm lợi riêng nên năm Mậu Ngọ (1618), chúa Sãi
cho tiến hành đo đạc ruộng đất ở các xã, xác định chủ quyền từng
miếng ruộng. Miếng nào của dân, miếng nào của công đều được
phân minh. Nhờ thế, nạn tranh chấp đất đai mới chấm dứt.
14
Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, việc khai khẩn
đất hoang cũng được tiến hành. Từ năm 1620, lưu
dân người Việt đã vào đây sinh sống nhờ chúa
Nguyễn đã tạo được mối quan hệ thân thiết với vua
Chân Lạp là Chey Chetta II. Nguyên trước đây, các vua
Chân Lạp thường bị Xiêm chi phối. Vua Borommarach
VIII lại muốn áp dụng phong tục của Xiêm nên bị các
đại thần và dân chúng phản đối, ông phải thoái vị năm
1618, nhường ngôi cho con là Chey Chetta II.
15
Chey Chetta II muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Xiêm nên cho
dời đô xa lãnh thổ của Xiêm, về phía Tây Nam là Oudong. Ông
cưới một người con gái của chúa Nguyễn làm hoàng hậu để mong
nhận được sự ủng hộ từ phía Đàng Trong. Việc này đem đến cho
chúa Nguyễn cơ hội phát triển ảnh hưởng của mình ở phương nam.
16
Năm Canh Thân (1620), chúa Sãi gả công nương Ngọc Vạn
cho Chey Chetta II. Sau đó ba năm (1623), một sứ bộ của Đàng
Trong được chúa Sãi gửi đến Oudong đàm phán với Chey Chetta
II cho chúa Nguyễn lập một trạm thu thuế ở Ney Nokor, tức Sài
Gòn – thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
17
Từ đó, người Việt đến vùng
đồng bằng phì nhiêu này lập
nghiệp ngày càng đông. Họ là
những người phiêu lưu, những
nông dân nghèo khó, những
người trốn tránh quân dịch,
những tín đồ Thiên Chúa giáo
và cả những binh lính trong đoàn
quân của chúa Nguyễn vào nam
nhưng vì lý do nào đó không trở
về quê... Luồng di dân tự phát
này diễn ra liên tục trong thế
kỷ XVII, XVIII.
18
Ngoài việc gả con gái Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp để xây
dựng tình đoàn kết láng giềng, chúa Sãi còn gả người con gái thứ
hai của mình là Ngọc Khoa cho vua Chămpa – Pô Romê – để tạo
tình hòa hiếu với dân tộc này. Như thế là hai người con gái của
chúa Sãi cũng như Huyền Trân công chúa, vì bổn phận với đất
nước mà rời xa Tổ quốc.
19
Thủ công nghiệp cũng được chúa Sãi khuyến khích phát triển.
Bản thân chúa Sãi cũng thành lập các xưởng thủ công, gọi là
Tượng cuộc. Thợ làm việc tại các Tượng cuộc là thợ khéo ở mọi
nơi được tuyển chọn vào. Họ được tổ chức thành đội ngũ, được
cấp phát tiền gạo như binh lính và làm việc theo chỉ thị của chúa.
20
Cách sản xuất được tổ chức theo nhóm được phân công rõ ràng.
Để tạo nên một khẩu súng, phải có nhiều nhóm thợ phối hợp với
nhau. Thợ đúc chỉ đúc lòng súng còn đinh súng thì thợ rèn làm,
báng súng thì do thợ mộc,... Các phụ tùng bằng bạc hay vàng thì
do thợ trong các ty ngân tượng, kim tượng thực hiện.
21
Khoáng sản được khai thác chủ yếu ở Đàng Trong lúc bấy giờ
là sắt và vàng. Mỏ sắt được khai thác ở xã Phú Bài, huyện Phú
Xuân, phủ Triệu Phong (nay thuộc Thừa Thiên – Huế). Mỏ vàng
có ở nhiều nơi, nhiều nhất ở Quảng Nam. Các mỏ vàng nổi tiếng
dưới thời chúa Tiên ở núi Trà Nô, Trà Tế thuộc huyện Duy Xuyên,
phủ Thăng Hoa vẫn tiếp tục được khai thác. Ngoài ra, còn nhiều
mỏ vàng khác ở phủ Triệu Phong, phủ Thăng Hoa, phủ Qui Nhơn.
22
Việc khai thác vàng lúc này còn tương đối đơn giản, không đòi
hỏi trình độ kỹ thuật cao. Người khai mỏ đào sâu hai trượng là
đến lớp đất có vàng. Họ lấy đất ấy đổ vào chậu rồi ra suối mà đãi.
Nước cuốn đi đất cát, để lại dưới đáy chậu là những mẩu vàng lấp
lánh. Thường là một gánh đất đãi ra được một phân vàng 9,10 tuổi.
23
Để kiểm soát và giúp đỡ những người đãi vàng, chúa cho tập
hợp họ lại thành đơn vị gọi là “thuộc”. Vì khai thác vàng nên tổ
chức này được gọi là “Thuộc kim hộ”. Mỗi thuộc có hơn 40 thôn,
chỉ gồm dân chuyên khai mỏ. Những người này được miễn lính,
nhưng phải nộp thuế bằng vàng, mỗi người hai hoặc ba đồng cân.
Nếu họ may mắn đãi được nhiều vàng thì họ vẫn đóng thuế như
cũ nhưng năm nào không đào được vàng thì phải đóng thuế bốn
quan tiền.
24
Việc buôn bán, thương mại cũng rất phát triển. Cảng Hội An
ngày càng trù phú, tàu buôn bán nước ngoài ra vào tấp nập. Có
khi trên bến cảng có hàng trăm chiếc thuyền buôn đậu chật sông,
cột buồm chi chít như rừng cây.
25
Mùa mua bán ở Hội An thường mở đầu cùng với năm mới âm
lịch. Vào những ngày sau Tết, tàu buôn cậåp bến Hội An, rộn ràng
hoạt động trong vòng 6 tháng. Sau đó, tàu nhổ neo, để lại thuyền
viên trên bờ. Người này có nhiệm vụ đi lùng kiếm mua hàng hóa.
Từ Hội An, họ tỏa đi khắp nơi để mua hàng và cũng từ khắp nơi
ở Đàng Trong, hàng hóa chảy về để đón tàu.
26
Để kiểm soát công việc buôn bán ở Hội An cùng việc cứu
giúp các thương thuyền nước ngoài bị gió bão, chúa Nguyễn đặt
ở Hội An một cơ quan gọi là ty Tàu vụ và chọn lựa những người
có kinh nghiệm trên thương trường để giữ những nhiệm vụ quan
trọng trong ty này. Vì người Minh Hương (con cháu của người
Trung Hoa sinh sống trên đất Đại Việt) thông thạo công việc này
nên thường được chúa lựa chọn.
27
Họ có nhiệm vụ định giá hàng, kiểm soát
việc đo lường và đồng thời làm phiên dịch
cho các thuyền buôn Trung Hoa. Mỗi chiếc
thuyền buôn sẽ phải đóng thuế tùy theo
quốc tịch. Thuyền phải nộp thuế cao nhất
là thuyền của người Tây Dương, thuyền
của các nước Đông Nam Á thì được áp
thuế rẻ hơn. Thuyền nào giấu giếm hàng
hóa thì bị tịch thu, sung công.
28
Thương buôn Trung Hoa thường mang tơ lụa tốt và sản
vật đến Hội An buôn bán. Tơ lụa của họ rất được thương
buôn Nhật Bản ưa chuộng và mua về rất nhiều. Có việc
buôn bán giữa thương nhân nước ngoài như vậy là vì
hoàng đế Trung Hoa cấm công dân của mình đến
Nhật Bản mua bán nên người Nhật phải mua hàng
hóa của Trung Hoa ở Hội An.
29
Còn việc buôn bán của người Bồ Đào Nha ngày càng phát đạt,
họ gần như độc quyền cung cấp vũ khí cho chúa Nguyễn. Vào
năm 1626, người Bồ mở rộng việc buôn bán của mình ra Đàng
Ngoài và được chúa Trịnh tiếp đãi niềm nở.
30
Người Nhật thì vẫn chú trọng đến thị trường Đàng
Trong. Những thuyền buôn từ Nagasaki đến Hội An
vẫn đi lại như con thoi. Họ không những mua
hàng hóa từ Đàng Trong mà còn thu mua tơ
lụa của thương nhân Trung Quốc. Hội An trở
thành trạm trung chuyển xuất nhập khẩu hàng
hóa cho người Nhật. Họ đến cư ngụ ngày càng
đông ở Hội An và giữ vai trò quan trọng
trong việc buôn bán thời kỳ này.
31
Công việc làm ăn phát đạt, họ xây tại đây một chiếc cầu độc
đáo, tên gọi là Lai Viễn Kiều, có ý nghĩa là cây cầu của những
người từ phương xa đến, đánh dấu sự hiện diện một thời của người
Nhật trên đất Hội An. Và một tên gọi khác là “chùa Cầu” vì chiếc
cầu cũng đồng thời là chùa.
32
33
Cầu nằm vắt ngang một con lạch chảy ra sông Thu Bồn, rộng
3m, làm bằng gỗ. Mặt cầu cong vòng lên tạo khoảng không cho
ghe thuyền qua lại dưới lạch. Đăc biệt, cầu có mái che mềm mại
tạo được chỗ trú mưa, trú nắng cho người đi đường hoặc có khi
dùng làm chỗ họp chợ.
34
Ở hai đầu cầu có hai tượng chó và khỉ đứng chầu. Tượng khỉ ở
đầu tây, tượng chó ở đầu đông. Mặt cầu chia làm ba lối đi. Ở giữa
là đường chính, trước đây dùng cho xe cộ đi lại. Hai bên có lối
nhỏ với lan can bằng gỗ sơn son. Một bên lối đi là khoảng không
gian dùng làm chùa, có tượng Bắc Đế cưỡi trên lưng con “cù”(*).
* Là con vật huyền thoại, có hình dáng tựa rồng. Người Nhật tin rằng đầu con
cù nằm ở Ấn Độ, lưng cù nằm vắt ra Hội An còn đuôi cù ở Nhật Bản. Khi nào
cù quẫy đuôi thì nước Nhật bị động đất. Muốn nước Nhật tránh được thiên tai
này, người Nhật xây chùa trên lưng cù, không cho nó quẫy đuôi, làm cho nước
Nhật bình yên.
35
Công việc buôn bán của người Nhật ở Đàng Trong đang phát
đạt thì bỗng nhiên năm 1636, Tướng quân (Shogun) của Nhật
Bản cấm công dân nước này xuất ngoại. Thương nhân người Nhật
không thể nào đến Hội An được nữa. Trong khi đó, số thương
nhân người Hoa ở Hội An không ngừng tăng lên và từ giữa thế
kỷ XVII đã có nhiều người cư ngụ ở Hội An, chiếm vai trò quan
trọng trong đời sống thương mại.
36
Người Việt ở Hội An cũng có nhiều công trình kiến trúc rất
độc đáo. Vì sống ở nơi đô hội nên người Việt ở đây đã tạo nên
những kiểu nhà phố thích hợp, vừa là chỗ buôn bán, vừa là nơi
sinh sống và nghỉ ngơi. Đây là kiểu kiến trúc tận dụng chiều sâu
và chiều cao vì mặt bằng khống chế, không được rộng rãi trong
không gian đô thị.
37
38
Đó là những căn nhà hình ống, phía trước phía sau đều có
cửa. Nhà có mái ngói âm dương và tường bao quanh. Phần trước
của nhà được dùng làm cửa hàng. Kế đó là phần giếng trời để
nhà có gió và nắng. Tại đây, người ta trồng một ít cây kiểng,
một ít hoa, tạo một mảng thiên nhiên trong nhà. Sau giếng trời
là phần nhà sau, nơi gia đình sinh hoạt, sum vầy. Và cuối cùng
là sân sau, nơi dành cho việc bếp núc và vệ sinh.
39
Ngoài ra, Hội An còn có những ngôi đình uy nghiêm với cây
đa in bóng mát và những ngôi chùa do người Hoa lập nên. Kiến
trúc Việt, kiến trúc Nhật, kiến trúc Hoa hòa lẫn vào nhau, cùng
với việc buôn bán phồn thịnh, tất cả tạo nên một Hội An đô hội
vào bậc nhất thời ấy tại Đại Việt.
40
Hội An là nơi gặp gỡ của các nền văn hóa, là nơi phát sinh việc
phiên âm chữ quốc ngữ. Để việc truyền đạo được dễ dàng, các giáo
sĩ Tây phương đến Hội An đã học nói tiếng Việt và đã tìm cách
ghi lại tiếng Việt nhằm phục vụ việc học tập được dễ dàng hơn.
Trong khi ghi lại tiếng Việt, họ đã dùng các chữ cái Latinh quen
thuộc của mình. Vì vậy, chữ quốc ngữ được hình thành.
41
Năm 1621, hai giáo sĩ Christoforo Borris (người Ý) và Francesco
de Pina (người Bồ Đào Nha) đã cùng nhau soạn một cuốn kinh
bằng lối chữ viết này. Sau đó, dựa trên kết quả của những người
đi trước, giáo sĩ Gaspal d'Amaral soạn quyển tự vị Việt – Bồ, giáo
sĩ Antonio Barbosa soạn quyển tự vị Việt – Latinh. Trên cơ sở đó,
Alexandre de Rhodes đã hoàn thành cuốn từ điển nổi tiếng Việt –
Bồ – La, xuất bản ở Ý giữa thế kỷ XVII. Ngoài ra, Alexandre de
Rhodes còn viết quyển Phép giảng tám ngày bằng chữ quốc ngữ.
42
Trong suốt hơn 200 năm kể từ khi ra đời, chữ quốc ngữ là công
cụ của một số giáo sĩ ngoại quốc và các chức sắc trong đạo để
phục vụ cho việc truyền đạo. Chỉ sau này, khi việc học chữ Nho
bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ mới có địa vị như ngày hôm nay.
43
Công việc truyền đạo của
các giáo sĩ Thiên Chúa giáo
vẫn được tiến hành đều đặn
ở Đàng Trong. Họ thường
theo thuyền buôn đến Đàng
Trong và tận dụng lúc tàu neo
đậu tại bến, họ giảng đạo cho
người bản xứ. Tuy thế, việc
truyền đạo không tiến triển.
Chỉ đến năm 1615, do việc
giảng đạo tại Nhật bị cấm vận
gay gắt, nhiều giáo sĩ không
đến được Nhật nên họ đã
được phái đến Đại Việt.
44
Năm 1615, năm tu sĩ thuộc dòng Tên đến Đà Nẵng, được chúa
Nguyễn cho phép giảng đạo và lập nhà thờ. Sau đó, họ vào Hội
An. Trong những năm sau, có đến vài mươi giáo sĩ dòng Tên đến
Đàng Trong. Các giáo sĩ này đã học tiếng Việt để có thể giảng
đạo và thành lập đội ngũ thầy giảng người Việt.
45
Trong số các giáo sĩ ấy, phải nhắc đến Christoforo Borris và
Alexandre de Rhodes. Christoforo Borris là người Ý, đến Đàng
Trong năm 1618 và viết một quyển sách xuất bản năm 1631, miêu
tả về đất nước cũng như sinh hoạt của nhân dân ta thời bấy giờ.
Alexandre de Rhodes là một giáo sĩ dòng Tên người Pháp, đến
Đàng Trong 1624. Chỉ trong vòng 6 tháng, ông đã có thể dùng
tiếng Việt để giảng đạo một cách thông thạo.
46
Đến năm 1627, ở Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes đã làm lễ
rửa tội cho rất nhiều người, trong đó có nhiều người là dòng dõi
hoàng tộc và các chúa. Như thế, trong giai đoạn này, các giáo sĩ
đến truyền đạo được tiếp đón niềm nở ở cả Đàng Trong lẫn Đàng
Ngoài. Qua sự ưu đãi đó, chúa Nguyễn và chúa Trịnh đều muốn
lôi kéo các thương thuyền phương Tây đến mua bán.
47
Nhưng cũng giống như Trung Quốc, Nhật Bản, sự phát triển
của đạo Thiên Chúa đã làm cho các chúa quan ngại. Việc hành
đạo của tôn giáo này khác với các phong tục cổ truyền, chẳng
hạn như không thờ cúng tổ tiên. Thêm nữa, sự tập trung của các
giáo dân và sự phục tùng tuyệt đối của họ vào những người ngoại
quốc cũng làm cho chúa lo ngại. Vì thế, chúa Trịnh cũng như
chúa Nguyễn đã hạn chế việc truyền bá và dần dần đi đến cấm
đạo. Năm 1627, chúa Sãi cho tập trung các giáo sĩ tại Hội An để
dễ kiểm soát. Sau đó, đến khi chúa Thượng đã ban lệnh cấm đạo
năm 1631. Ở Đàng Ngoài, Trịnh Tráng trục xuất Alexandre de
Rhodes vào năm 1630 và ra lệnh cấm đạo vào năm 1643.
48
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, việc cấm đạo vẫn chưa gắt gao
vì các chúa muốn lôi kéo thương nhân đến buôn bán, đem đến
những mặt hàng phục vụ cho chiến tranh cũng như nhu cầu xa xỉ
của triều đình. Chính vì thế, việc cấm đạo từng lúc gắt gao hay
nới lỏng tùy các tàu buôn có đến đều đặn hay không.
49
 






