CA KHÚC HÀNH KHÚC NGƯỜI LÁI ĐÒ

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z4999043462983_2be1d887d99d54bb6aa1f2b7ee9bc046.jpg Z4900493151502_f26fdb80fb60695ce1f9714d622cdf91.jpg

    BÁC HỒ VỚI GIÁO DỤC

    CHA MẸ THÔNG THÁI

    web-share" allowfullscreen>

    LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3

    CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Lịch sử Việt Nam t50

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 22h:45' 09-03-2024
    Dung lượng: 8.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Chủ biên
    TRẦN BẠCH ĐẰNG
    Biên soạn
    LÊ VĂN NĂM
    Họa sĩ
    NGUYỄN HUY KHÔI

    LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH
    TẬP 50

    CHÚA SÃI
    CHÚA THƯỢNG

    N H Đ X U ẤT B Ả N T R Ẻ

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: NGUYỄN HUY KHÔI

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Chúa Sãi chúa Thượng / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn ; họa sĩ
    Nguyễn Huy Khôi. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2011.
    92tr. : minh họa ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.50).
    1. Nguyễn Phúc Nguyên, 1563-1635. 2. Tiểu thuyết lịch sử — Việt Nam. 3. Việt Nam
    — Lịch sử — 1592-1788 — Tiểu thuyết. 4. Việt Nam — Lịch sử — Nguyễn Phúc Nguyên,
    1613-1635 — Tiểu thuyết. 5. Việt Nam — Vua và quần thần. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn
    Năm. III. Nguyễn Huy Khôi m.h. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    959.70272092 — dc 22
    C559

    Lời giới thiệu
    Sau khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng tạ thế, Nguyễn Phúc
    Nguyên nối nghiệp chúa. Được sự giúp đỡ của các công
    thần, đặc biệt là sự phò trợ của Đào Duy Từ, người đã
    ra sức hoàn thiện việc cai trị, phát triển nông nghiệp,
    sửa thành lũy, đặt quan ải, thu phục lòng người ở mảnh
    đất phương nam. Nguyễn Phúc Nguyên tấm lòng nhân
    từ, được dân xưng tụng là chúa Sãi, hay còn gọi là
    chúa Phật.
    Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mất, thế tử Nguyễn
    Phúc Lan lên thay, được nhân dân yêu mến gọi là chúa
    Thượng. Lên nắm chính quyền, chúa Thượng dùng nhân
    đức cai trị, bấy giờ vùng đất phương nam mưa nắng
    thuận hòa, dân giàu nước thịnh, cảnh thái bình ở khắp
    chốn.
    Tập 50 của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chúa
    Sãi, chúa Thượng” phần lời do Lê Văn Năm biên soạn,
    phần hình ảnh do họa sĩ Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ trân trọng giới thiệu tập 50 của bộ
    Lịch sử Việt Nam bằng tranh đến độc giả.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) là vị chúa thứ hai
    của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
    Ông ở ngôi từ năm 1614 đến năm 1635. Trong thời ở
    ngôi, ông đã từng bước xây dựng một chính quyền độc
    lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai với chính quyền
    Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài.
    Sau khi chúa Sãi mất, chúa Thượng Nguyễn Phúc
    Lan (1600-1648) lên ngôi, nối tiếp con đường của cha.
    Chúa Thượng là người dùng đức cai trị nên ở Đàng
    Trong những năm ấy mưa thuận gió hòa, dân chúng
    no đủ. Ông ở ngôi chúa 13 năm, mất trên thuyền ở phá
    Tam Giang, khi trên đường rút quân về lại Phú Xuân.

    Nguyễn Phúc Nguyên sinh ngày
    28 tháng 7 năm Quý Hợi, tức ngày 16
    tháng 8 năm 1563. Khi lên nối nghiệp
    chúa, ông đã 51 tuổi. Tuy là con thứ
    nhưng ông được lên nối nghiệp vì
    trong các người anh của ông, ngoài
    bốn người đã mất thì chỉ còn lại một
    người anh thứ năm là Công tử Hải
    đang ở Đàng Ngoài làm con tin.

    5

    Tương truyền: Mẹ chúa
    Sãi nằm mộng thấy một
    vị tiên tặng cho bà một
    chữ Phúc, sau đó liền thụ
    thai. Khi sinh hạ, bà lấy chữ
    “Phúc” đặt làm tên lót của
    ông. Từ đó, tên con cháu của
    chúa Nguyễn đều lót thêm chữ
    Phúc (hoặc Phước)(*). Sỡ dĩ ông
    được gọi là chúa Sãi vì ông là
    người nhân hậu, yêu thương nhân
    dân, lại sùng đạo Phật nên được
    dân chúng gọi là chúa Sãi
    hay chúa Phật.
    * Trong tiếng Hán, chữ Phúc
    và chữ Phước là một chữ.

    6

    Lên làm chúa, Nguyễn Phúc Nguyên tiến hành việc xây dựng
    chính quyền độc lập ở miền Nam. Năm 1614, ông cho tổ chức lại
    bộ máy cai trị, thải hồi quan lại do chúa Trịnh cử vào trước đây,
    thay vào đó là những người thân tín của mình.
    7

    Năm 1626, chúa Sãi cho dời lỵ sở vào làng Phước Yên (nay
    thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế),
    cách Cát Dinh đến 40km về phía nam. Nơi đây có phá Tam Giang
    hiểm trở và các tiểu đồn đã lập trước đây ở Ái
    Tử, Trà Bát, Cát Dinh án ngữ, có thể bảo vệ
    trung tâm đầu não ở Đàng Trong khi có
    chiến tranh xảy ra.
    Sau khi dời dinh về làng Phước Yên,
    chúa Sãi cho gọi nơi đây là phủ để ngang
    hàng với phủ(*) chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
    * Phủ là nơi ở dành riêng cho những người
    mang tước vương.

    8

    Năm Giáp Dần (1614), chúa lập Tam ty để hoàn thiện bộ máy
    hành chính. Ở chính Dinh, Tam ty gồm: ty Xá sai, do Đô tri và
    Ký lục phụ trách, coi việc thi hành luật pháp, kiện tụng, xử án;
    ty Tướng thần do Cai bạ đứng đầu, coi việc trưng thu tiền thóc,
    phát lương cho binh lính; ty Lệnh sử coi việc tế tự, lễ tiết và chi
    cấp lương thực cho quân đội ở Chính dinh, đứng đầu là Nha úy. Ở
    mỗi ty lại có 3 Câu kê, 7 Cai hợp, 10 Thủ hợp, 40 Ty lại. Ngoài
    ra, còn có Nội Lệnh sử và Tả, Hữu Lệnh sử phụ trách thu thuế.
    9

    Ở các dinh ngoài, có nơi chỉ đặt một ty Lệnh sử, có nơi đặt hai
    ty: Xá sai và tướng thần, có nơi lại đặt ty Xá sai và Lệnh sử để
    trông coi việc xét xử tra án, sổ sách đinh điền và trưng thu thuế
    ruộng ở nơi sở tại. Ở mỗi nơi, lại tùy theo công việc mà thêm bớt
    người phụ trách.

    10

    Các quan lại ở Đàng Trong không được cấp lương bổng mà
    chỉ được cấp ruộng (gọi là lộc điền) để thu hoa lợi. Quan lại tùy
    theo cấp bậc mà được cấp ruộng nhiều hay ít nhưng thường không
    quá 10 mẫu.
    11

    Lúc đầu, người làm quan thường là con cháu quý tộc, công
    thần hoặc do người có uy tín tiến cử lên chúa. Nhưng sau đó, việc
    chọn người làm quan thông qua thi cử được áp dụng. Năm 1632,
    chúa Sãi quy định cứ đến kỳ tuyển lính thì học trò ở các huyện
    cũng qui tụ về trấn dinh để khảo thí. Thí sinh phải làm một bài
    thơ, một đạo văn sách (văn chính luận), hạn trong một ngày phải
    làm xong. Người thi đỗ được gọi là Nhiêu học, miễn thuế thân
    năm năm. Kì ấy gọi là “quận thí mùa xuân”. Lại thi viết chữ Hán,
    người nào tiếp tục đỗ thì bổ làm việc ở các ty.

    12

    Nông nghiệp rất được chúa Nguyễn chú trọng. Nguyên vùng
    đất nằm rải rác ven biển từ Thuận Hóa đến Bình Thuận là những
    vùng đồng bằng nhỏ hẹp, thường xuyên xảy ra bão lụt. Đa số ruộng
    ở đây chỉ cấy được một vụ vào mùa hạ, một số ít ruộng cấy được
    vụ thu. Tuy thế, với sức cần cù và sự khuyến khích của chúa Sãi,
    nông dân vẫn có những vụ mùa bội thu.
    13

    Do bấy giờ, xảy ra tình trạng cường hào, địa chủ chiếm ruộng
    đất công để làm lợi riêng nên năm Mậu Ngọ (1618), chúa Sãi
    cho tiến hành đo đạc ruộng đất ở các xã, xác định chủ quyền từng
    miếng ruộng. Miếng nào của dân, miếng nào của công đều được
    phân minh. Nhờ thế, nạn tranh chấp đất đai mới chấm dứt.

    14

    Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, việc khai khẩn
    đất hoang cũng được tiến hành. Từ năm 1620, lưu
    dân người Việt đã vào đây sinh sống nhờ chúa
    Nguyễn đã tạo được mối quan hệ thân thiết với vua
    Chân Lạp là Chey Chetta II. Nguyên trước đây, các vua
    Chân Lạp thường bị Xiêm chi phối. Vua Borommarach
    VIII lại muốn áp dụng phong tục của Xiêm nên bị các
    đại thần và dân chúng phản đối, ông phải thoái vị năm
    1618, nhường ngôi cho con là Chey Chetta II.

    15

    Chey Chetta II muốn thoát khỏi ảnh hưởng của Xiêm nên cho
    dời đô xa lãnh thổ của Xiêm, về phía Tây Nam là Oudong. Ông
    cưới một người con gái của chúa Nguyễn làm hoàng hậu để mong
    nhận được sự ủng hộ từ phía Đàng Trong. Việc này đem đến cho
    chúa Nguyễn cơ hội phát triển ảnh hưởng của mình ở phương nam.

    16

    Năm Canh Thân (1620), chúa Sãi gả công nương Ngọc Vạn
    cho Chey Chetta II. Sau đó ba năm (1623), một sứ bộ của Đàng
    Trong được chúa Sãi gửi đến Oudong đàm phán với Chey Chetta
    II cho chúa Nguyễn lập một trạm thu thuế ở Ney Nokor, tức Sài
    Gòn – thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
    17

    Từ đó, người Việt đến vùng
    đồng bằng phì nhiêu này lập
    nghiệp ngày càng đông. Họ là
    những người phiêu lưu, những
    nông dân nghèo khó, những
    người trốn tránh quân dịch,
    những tín đồ Thiên Chúa giáo
    và cả những binh lính trong đoàn
    quân của chúa Nguyễn vào nam
    nhưng vì lý do nào đó không trở
    về quê... Luồng di dân tự phát
    này diễn ra liên tục trong thế
    kỷ XVII, XVIII.

    18

    Ngoài việc gả con gái Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp để xây
    dựng tình đoàn kết láng giềng, chúa Sãi còn gả người con gái thứ
    hai của mình là Ngọc Khoa cho vua Chămpa – Pô Romê – để tạo
    tình hòa hiếu với dân tộc này. Như thế là hai người con gái của
    chúa Sãi cũng như Huyền Trân công chúa, vì bổn phận với đất
    nước mà rời xa Tổ quốc.

    19

    Thủ công nghiệp cũng được chúa Sãi khuyến khích phát triển.
    Bản thân chúa Sãi cũng thành lập các xưởng thủ công, gọi là
    Tượng cuộc. Thợ làm việc tại các Tượng cuộc là thợ khéo ở mọi
    nơi được tuyển chọn vào. Họ được tổ chức thành đội ngũ, được
    cấp phát tiền gạo như binh lính và làm việc theo chỉ thị của chúa.
    20

    Cách sản xuất được tổ chức theo nhóm được phân công rõ ràng.
    Để tạo nên một khẩu súng, phải có nhiều nhóm thợ phối hợp với
    nhau. Thợ đúc chỉ đúc lòng súng còn đinh súng thì thợ rèn làm,
    báng súng thì do thợ mộc,... Các phụ tùng bằng bạc hay vàng thì
    do thợ trong các ty ngân tượng, kim tượng thực hiện.

    21

    Khoáng sản được khai thác chủ yếu ở Đàng Trong lúc bấy giờ
    là sắt và vàng. Mỏ sắt được khai thác ở xã Phú Bài, huyện Phú
    Xuân, phủ Triệu Phong (nay thuộc Thừa Thiên – Huế). Mỏ vàng
    có ở nhiều nơi, nhiều nhất ở Quảng Nam. Các mỏ vàng nổi tiếng
    dưới thời chúa Tiên ở núi Trà Nô, Trà Tế thuộc huyện Duy Xuyên,
    phủ Thăng Hoa vẫn tiếp tục được khai thác. Ngoài ra, còn nhiều
    mỏ vàng khác ở phủ Triệu Phong, phủ Thăng Hoa, phủ Qui Nhơn.
    22

    Việc khai thác vàng lúc này còn tương đối đơn giản, không đòi
    hỏi trình độ kỹ thuật cao. Người khai mỏ đào sâu hai trượng là
    đến lớp đất có vàng. Họ lấy đất ấy đổ vào chậu rồi ra suối mà đãi.
    Nước cuốn đi đất cát, để lại dưới đáy chậu là những mẩu vàng lấp
    lánh. Thường là một gánh đất đãi ra được một phân vàng 9,10 tuổi.

    23

    Để kiểm soát và giúp đỡ những người đãi vàng, chúa cho tập
    hợp họ lại thành đơn vị gọi là “thuộc”. Vì khai thác vàng nên tổ
    chức này được gọi là “Thuộc kim hộ”. Mỗi thuộc có hơn 40 thôn,
    chỉ gồm dân chuyên khai mỏ. Những người này được miễn lính,
    nhưng phải nộp thuế bằng vàng, mỗi người hai hoặc ba đồng cân.
    Nếu họ may mắn đãi được nhiều vàng thì họ vẫn đóng thuế như
    cũ nhưng năm nào không đào được vàng thì phải đóng thuế bốn
    quan tiền.

    24

    Việc buôn bán, thương mại cũng rất phát triển. Cảng Hội An
    ngày càng trù phú, tàu buôn bán nước ngoài ra vào tấp nập. Có
    khi trên bến cảng có hàng trăm chiếc thuyền buôn đậu chật sông,
    cột buồm chi chít như rừng cây.

    25

    Mùa mua bán ở Hội An thường mở đầu cùng với năm mới âm
    lịch. Vào những ngày sau Tết, tàu buôn cậåp bến Hội An, rộn ràng
    hoạt động trong vòng 6 tháng. Sau đó, tàu nhổ neo, để lại thuyền
    viên trên bờ. Người này có nhiệm vụ đi lùng kiếm mua hàng hóa.
    Từ Hội An, họ tỏa đi khắp nơi để mua hàng và cũng từ khắp nơi
    ở Đàng Trong, hàng hóa chảy về để đón tàu.

    26

    Để kiểm soát công việc buôn bán ở Hội An cùng việc cứu
    giúp các thương thuyền nước ngoài bị gió bão, chúa Nguyễn đặt
    ở Hội An một cơ quan gọi là ty Tàu vụ và chọn lựa những người
    có kinh nghiệm trên thương trường để giữ những nhiệm vụ quan
    trọng trong ty này. Vì người Minh Hương (con cháu của người
    Trung Hoa sinh sống trên đất Đại Việt) thông thạo công việc này
    nên thường được chúa lựa chọn.
    27

    Họ có nhiệm vụ định giá hàng, kiểm soát
    việc đo lường và đồng thời làm phiên dịch
    cho các thuyền buôn Trung Hoa. Mỗi chiếc
    thuyền buôn sẽ phải đóng thuế tùy theo
    quốc tịch. Thuyền phải nộp thuế cao nhất
    là thuyền của người Tây Dương, thuyền
    của các nước Đông Nam Á thì được áp
    thuế rẻ hơn. Thuyền nào giấu giếm hàng
    hóa thì bị tịch thu, sung công.

    28

    Thương buôn Trung Hoa thường mang tơ lụa tốt và sản
    vật đến Hội An buôn bán. Tơ lụa của họ rất được thương
    buôn Nhật Bản ưa chuộng và mua về rất nhiều. Có việc
    buôn bán giữa thương nhân nước ngoài như vậy là vì
    hoàng đế Trung Hoa cấm công dân của mình đến
    Nhật Bản mua bán nên người Nhật phải mua hàng
    hóa của Trung Hoa ở Hội An.

    29

    Còn việc buôn bán của người Bồ Đào Nha ngày càng phát đạt,
    họ gần như độc quyền cung cấp vũ khí cho chúa Nguyễn. Vào
    năm 1626, người Bồ mở rộng việc buôn bán của mình ra Đàng
    Ngoài và được chúa Trịnh tiếp đãi niềm nở.

    30

    Người Nhật thì vẫn chú trọng đến thị trường Đàng
    Trong. Những thuyền buôn từ Nagasaki đến Hội An
    vẫn đi lại như con thoi. Họ không những mua
    hàng hóa từ Đàng Trong mà còn thu mua tơ
    lụa của thương nhân Trung Quốc. Hội An trở
    thành trạm trung chuyển xuất nhập khẩu hàng
    hóa cho người Nhật. Họ đến cư ngụ ngày càng
    đông ở Hội An và giữ vai trò quan trọng
    trong việc buôn bán thời kỳ này.

    31

    Công việc làm ăn phát đạt, họ xây tại đây một chiếc cầu độc
    đáo, tên gọi là Lai Viễn Kiều, có ý nghĩa là cây cầu của những
    người từ phương xa đến, đánh dấu sự hiện diện một thời của người
    Nhật trên đất Hội An. Và một tên gọi khác là “chùa Cầu” vì chiếc
    cầu cũng đồng thời là chùa.

    32

    33

    Cầu nằm vắt ngang một con lạch chảy ra sông Thu Bồn, rộng
    3m, làm bằng gỗ. Mặt cầu cong vòng lên tạo khoảng không cho
    ghe thuyền qua lại dưới lạch. Đăc biệt, cầu có mái che mềm mại
    tạo được chỗ trú mưa, trú nắng cho người đi đường hoặc có khi
    dùng làm chỗ họp chợ.
    34

    Ở hai đầu cầu có hai tượng chó và khỉ đứng chầu. Tượng khỉ ở
    đầu tây, tượng chó ở đầu đông. Mặt cầu chia làm ba lối đi. Ở giữa
    là đường chính, trước đây dùng cho xe cộ đi lại. Hai bên có lối
    nhỏ với lan can bằng gỗ sơn son. Một bên lối đi là khoảng không
    gian dùng làm chùa, có tượng Bắc Đế cưỡi trên lưng con “cù”(*).
    * Là con vật huyền thoại, có hình dáng tựa rồng. Người Nhật tin rằng đầu con
    cù nằm ở Ấn Độ, lưng cù nằm vắt ra Hội An còn đuôi cù ở Nhật Bản. Khi nào
    cù quẫy đuôi thì nước Nhật bị động đất. Muốn nước Nhật tránh được thiên tai
    này, người Nhật xây chùa trên lưng cù, không cho nó quẫy đuôi, làm cho nước
    Nhật bình yên.

    35

    Công việc buôn bán của người Nhật ở Đàng Trong đang phát
    đạt thì bỗng nhiên năm 1636, Tướng quân (Shogun) của Nhật
    Bản cấm công dân nước này xuất ngoại. Thương nhân người Nhật
    không thể nào đến Hội An được nữa. Trong khi đó, số thương
    nhân người Hoa ở Hội An không ngừng tăng lên và từ giữa thế
    kỷ XVII đã có nhiều người cư ngụ ở Hội An, chiếm vai trò quan
    trọng trong đời sống thương mại.
    36

    Người Việt ở Hội An cũng có nhiều công trình kiến trúc rất
    độc đáo. Vì sống ở nơi đô hội nên người Việt ở đây đã tạo nên
    những kiểu nhà phố thích hợp, vừa là chỗ buôn bán, vừa là nơi
    sinh sống và nghỉ ngơi. Đây là kiểu kiến trúc tận dụng chiều sâu
    và chiều cao vì mặt bằng khống chế, không được rộng rãi trong
    không gian đô thị.
    37

    38

    Đó là những căn nhà hình ống, phía trước phía sau đều có
    cửa. Nhà có mái ngói âm dương và tường bao quanh. Phần trước
    của nhà được dùng làm cửa hàng. Kế đó là phần giếng trời để
    nhà có gió và nắng. Tại đây, người ta trồng một ít cây kiểng,
    một ít hoa, tạo một mảng thiên nhiên trong nhà. Sau giếng trời
    là phần nhà sau, nơi gia đình sinh hoạt, sum vầy. Và cuối cùng
    là sân sau, nơi dành cho việc bếp núc và vệ sinh.

    39

    Ngoài ra, Hội An còn có những ngôi đình uy nghiêm với cây
    đa in bóng mát và những ngôi chùa do người Hoa lập nên. Kiến
    trúc Việt, kiến trúc Nhật, kiến trúc Hoa hòa lẫn vào nhau, cùng
    với việc buôn bán phồn thịnh, tất cả tạo nên một Hội An đô hội
    vào bậc nhất thời ấy tại Đại Việt.
    40

    Hội An là nơi gặp gỡ của các nền văn hóa, là nơi phát sinh việc
    phiên âm chữ quốc ngữ. Để việc truyền đạo được dễ dàng, các giáo
    sĩ Tây phương đến Hội An đã học nói tiếng Việt và đã tìm cách
    ghi lại tiếng Việt nhằm phục vụ việc học tập được dễ dàng hơn.
    Trong khi ghi lại tiếng Việt, họ đã dùng các chữ cái Latinh quen
    thuộc của mình. Vì vậy, chữ quốc ngữ được hình thành.

    41

    Năm 1621, hai giáo sĩ Christoforo Borris (người Ý) và Francesco
    de Pina (người Bồ Đào Nha) đã cùng nhau soạn một cuốn kinh
    bằng lối chữ viết này. Sau đó, dựa trên kết quả của những người
    đi trước, giáo sĩ Gaspal d'Amaral soạn quyển tự vị Việt – Bồ, giáo
    sĩ Antonio Barbosa soạn quyển tự vị Việt – Latinh. Trên cơ sở đó,
    Alexandre de Rhodes đã hoàn thành cuốn từ điển nổi tiếng Việt –
    Bồ – La, xuất bản ở Ý giữa thế kỷ XVII. Ngoài ra, Alexandre de
    Rhodes còn viết quyển Phép giảng tám ngày bằng chữ quốc ngữ.

    42

    Trong suốt hơn 200 năm kể từ khi ra đời, chữ quốc ngữ là công
    cụ của một số giáo sĩ ngoại quốc và các chức sắc trong đạo để
    phục vụ cho việc truyền đạo. Chỉ sau này, khi việc học chữ Nho
    bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ mới có địa vị như ngày hôm nay.

    43

    Công việc truyền đạo của
    các giáo sĩ Thiên Chúa giáo
    vẫn được tiến hành đều đặn
    ở Đàng Trong. Họ thường
    theo thuyền buôn đến Đàng
    Trong và tận dụng lúc tàu neo
    đậu tại bến, họ giảng đạo cho
    người bản xứ. Tuy thế, việc
    truyền đạo không tiến triển.
    Chỉ đến năm 1615, do việc
    giảng đạo tại Nhật bị cấm vận
    gay gắt, nhiều giáo sĩ không
    đến được Nhật nên họ đã
    được phái đến Đại Việt.
    44

    Năm 1615, năm tu sĩ thuộc dòng Tên đến Đà Nẵng, được chúa
    Nguyễn cho phép giảng đạo và lập nhà thờ. Sau đó, họ vào Hội
    An. Trong những năm sau, có đến vài mươi giáo sĩ dòng Tên đến
    Đàng Trong. Các giáo sĩ này đã học tiếng Việt để có thể giảng
    đạo và thành lập đội ngũ thầy giảng người Việt.

    45

    Trong số các giáo sĩ ấy, phải nhắc đến Christoforo Borris và
    Alexandre de Rhodes. Christoforo Borris là người Ý, đến Đàng
    Trong năm 1618 và viết một quyển sách xuất bản năm 1631, miêu
    tả về đất nước cũng như sinh hoạt của nhân dân ta thời bấy giờ.
    Alexandre de Rhodes là một giáo sĩ dòng Tên người Pháp, đến
    Đàng Trong 1624. Chỉ trong vòng 6 tháng, ông đã có thể dùng
    tiếng Việt để giảng đạo một cách thông thạo.

    46

    Đến năm 1627, ở Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes đã làm lễ
    rửa tội cho rất nhiều người, trong đó có nhiều người là dòng dõi
    hoàng tộc và các chúa. Như thế, trong giai đoạn này, các giáo sĩ
    đến truyền đạo được tiếp đón niềm nở ở cả Đàng Trong lẫn Đàng
    Ngoài. Qua sự ưu đãi đó, chúa Nguyễn và chúa Trịnh đều muốn
    lôi kéo các thương thuyền phương Tây đến mua bán.
    47

    Nhưng cũng giống như Trung Quốc, Nhật Bản, sự phát triển
    của đạo Thiên Chúa đã làm cho các chúa quan ngại. Việc hành
    đạo của tôn giáo này khác với các phong tục cổ truyền, chẳng
    hạn như không thờ cúng tổ tiên. Thêm nữa, sự tập trung của các
    giáo dân và sự phục tùng tuyệt đối của họ vào những người ngoại
    quốc cũng làm cho chúa lo ngại. Vì thế, chúa Trịnh cũng như
    chúa Nguyễn đã hạn chế việc truyền bá và dần dần đi đến cấm
    đạo. Năm 1627, chúa Sãi cho tập trung các giáo sĩ tại Hội An để
    dễ kiểm soát. Sau đó, đến khi chúa Thượng đã ban lệnh cấm đạo
    năm 1631. Ở Đàng Ngoài, Trịnh Tráng trục xuất Alexandre de
    Rhodes vào năm 1630 và ra lệnh cấm đạo vào năm 1643.

    48

    Tuy nhiên, trong giai đoạn này, việc cấm đạo vẫn chưa gắt gao
    vì các chúa muốn lôi kéo thương nhân đến buôn bán, đem đến
    những mặt hàng phục vụ cho chiến tranh cũng như nhu cầu xa xỉ
    của triều đình. Chính vì thế, việc cấm đạo từng lúc gắt gao hay
    nới lỏng tùy các tàu buôn có đến đều đặn hay không.
    49
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML