LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3
CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lịch sử Việt Nam t34

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:22' 09-03-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:22' 09-03-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ ba
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Biên tập hình ảnh: Lê Tường Thanh
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Bao vây thành Đông Quan/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn;
họa sĩ Nguyễn Huy. - Tái bản lần thứ 3. TP. Hồ Chí Minh; Trẻ 2013.
80tr.; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.34).
1. Việt Nam – Lịch sử – Triều nhà hậu Lê, 1427–1527 – Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam – History – Later Lê dynasty, 1427–1527 – Pictorial works.
959.7026 — dc 22
B221
LỜI GIỚI THIỆU
Sau khi giải phóng được một vùng đất rộng lớn và
liên hoàn từ Thanh Hóa trở vào Nam, nghĩa quân Lam
Sơn đã đĩnh đạc bước sang một giai đoạn chiến đấu
hoàn toàn mới, với tư thế hiên ngang của đạo quân
quyết chí thay đổi cục diện chiến trường: Chủ động
tấn công và tiêu diệt quân xâm lăng bằng những trận
quyết chiến chiến lược có quy mô lớn để rồi đè bẹp
và quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi. Giai đoạn
sau cùng này của Lam Sơn (tháng 9 năm 1426 đến
hết năm 1427) gồm rất nhiều sự kiện sôi động và có
ý nghĩa vô cùng lớn lao. Độc lập, tự chủ đang đến
gần hơn với người dân Đại Việt.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 34
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Bao vây thành
Đông Quan” phần lời do Nguyễn Khắc Thuần biên
soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 34
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Trong giai đoạn cuối cùng của khởi nghĩa Lam Sơn,
chiến thắng của trận quyết chiến chiến lược Tốt Động Chúc Động có vai trò vô cùng quan trọng. Đây là trận mà
Nguyễn Trãi từng mô tả trong Bình Ngô đại cáo:
Ninh Kiều: máu chảy thành sông, tanh hôi muôn dặm
Tốt Động: thây phơi đầy nội, thối để ngàn thu...
Từ chiến thắng này, nghĩa quân Lam Sơn đã bắt đầu
tiến hành cuộc bao vây và tấn công thành Động Quan, cứ
điểm cuối cùng của quân Minh trên đất nước ta.
4
Tháng 7 năm 1425, Minh Nhân Tông qua đời sau thời gian ở
ngôi chưa đầy một năm (từ tháng 8 năm 1424 đến tháng 7 năm
1425), Thái tử Chiêm Cơ lên nối ngôi, đó là vua Minh Tuyên Tông
(1425-1434). Bấy giờ nhà Minh đã tỏ rõ sự chán nản vì hao người
tốn của quá lớn trong cuộc xâm lược nước ta. Ý định tìm con cháu
họ Trần để lập làm vua đã bắt đầu xuất hiện. Vua Tuyên Tông
nói với triều thần rằng: “Làm như thế tất không tránh khỏi tiếng
đàm tiếu rằng trẫm đã bỏ mất cơ nghiệp của tổ tiên. Nhưng việc
dựng lại triều Trần sụp đổ cũng chính là ý của Hoàng tổ ta vậy”.
5
Để thực hiện ý đồ này, Tuyên Tông chủ trương thực hiện chính
sách hai mặt đối với nước ta. Một mặt là tìm mọi cách để xoa dịu
lòng căm phẫn của nhân dân ta, nhưng mặt khác vẫn đẩy mạnh
các cuộc tấn công đàn áp nhằm nhanh chóng lập lại sự ổn định
cho nền đô hộ của chúng. Một loạt các tướng lĩnh nhà Minh bị
cách chức, nhưng được phép lập công để chuộc tội.
6
Trong lúc đó, từ thành Lục Niên,
Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn đã
có một quyết định táo bạo: Tấn công
vào các địa phương khu vực đồng
bằng sông Hồng để uy hiếp trực tiếp
quân giặc ở thành Đông Quan. Vì
vậy, Lam Sơn quyết định huy động
đến gần một vạn quân, chia làm ba
đạo, vào tháng 9 năm 1426 thì bắt
đầu làm lễ tế cờ xuất binh.
7
Đạo quân thứ nhất gồm hơn
3000 nghĩa sĩ và một thớt voi
chiến, do các tướng Phạm Văn
Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả và Đỗ
Bí chỉ huy, có nhiệm vụ băng
qua Ninh Bình, Hà Nam, Nam
Định, Hòa Bình, Phú Thọ và
Vĩnh Phúc ngày nay để tấn công
vào mặt Nam thành Đông Quan.
Ngoài ra còn phòng bị quân giặc
từ Vân Nam có thể đến ứng cứu.
8
Đạo quân thứ hai lúc đầu chỉ
có 2000 nghĩa sĩ và một thớt voi
do các tướng Bùi Bị, Lưu Nhân
Chú, Lê Trương và Lê Ninh
chỉ huy, đánh vào khu vực hạ
lưu sông Hồng đồng thời chặn
giặc từ Tây Đô và Nghệ An tháo
chạy ra. Nhưng sau đó Lê Lợi
lại bổ sung thêm 2000 quân và
một thớt voi do Lê Bồi và Lê
Vị Canh chỉ huy với nhiệm vụ
chặn viện binh giặc nếu chúng
từ vùng Lưỡng Quảng kéo sang.
9
Đạo quân thứ ba gồm khoảng 2000 nghĩa sĩ do các tướng Đinh
Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy, có nhiệm vụ tiến thẳng đến thành Đông
Quan, vừa phô trương thanh thế để uy hiếp quân Minh, vừa sẵn
sàng phối hợp với các đạo quân khác để nhanh chóng giải phóng
vùng đồng bằng và trung du phía Bắc.
10
Tổng số quân Lam Sơn huy động vào cuộc tiến công này tuy
không lớn nhưng họ không đơn độc. Chỗ dựa tinh thần cũng như
vật chất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với họ là sự ủng hộ
mạnh mẽ của nhân dân. Vốn là đội quân giữ kỷ luật rất nghiêm,
không xâm phạm đến tài sản của dân, quân Lam Sơn được nhân
dân giúp đỡ về mọi mặt. Một trong số những người có nhiều đóng
góp to lớn được đời đời ghi nhớ là hai mẹ con người chèo đò bên
sông Đáy.
11
Tương truyền khi quân Lam Sơn tiến đến sông Đáy (thuộc Hà
Nội hiện nay) thì phải dừng lại vì thiếu phương tiện để vượt sông.
Hai mẹ con đã dùng con đò nhỏ của mình lần lượt chở tất cả qua
sông an toàn. Nhờ sự giúp đỡ đắc lực ấy, nghĩa quân Lam Sơn
kịp thời mở những trận đánh bất ngờ, lập được nhiều chiến công
lớn. Sau ngày thắng lợi, triều Lê đã ban thưởng cho mẹ con bà.
Khi hai mẹ con mất, được nhân dân làng Nhân Huệ (Hà Nội) tôn
làm Thành hoàng làng.
12
Thời gian quân Lam Sơn đánh ra Bắc, nhiều vùng ở đây đã tự
thành lập những đội dân binh tìm đủ mọi cách đánh giặc. Một số
đội dân binh có những cách đánh rất sáng tạo, chẳng hạn như đội
dân binh ở đất Đào Đặng thuộc huyện Tiên Lữ (tỉnh Hưng Yên
ngày nay). Trong đội có Đào Thị Huệ nổi tiếng xinh đẹp, hát hay,
múa giỏi; vì vậy cô được giao nhiệm vụ mở quán rượu và tổ chức
những cuộc hát xướng để lôi kéo bọn lính Minh tới xem.
13
Càng ngày, bọn lính Minh càng say
mê xem cô hát múa đến mức đem cả
túi ngủ đến quán để nếu say thì ngủ
lại. Chờ lúc chúng ngủ say, anh em
trong đội liền cột chặt miệng túi rồi
khiêng quẳng xuống con sông gần đó.
Cứ thế, không biết bao nhiêu tên giặc
đã làm mồi cho cá.
14
Tương truyền hồi đó, để kiểm tra quân số, giặc chưa điểm
quân như bây giờ mà chỉ xây những thành lũy nhỏ hình vuông
có hai cửa gọi là đấu thành. Những tên chỉ huy lùa quân vào cửa
này, hễ đầy thành thì cho ra cửa kia để... đong
quân. Sau nhiều phen đong quân như vậy,
chúng hốt hoảng khi thấy quân số hao
hụt quá nhiều. Nghĩ rằng đất này
có ma, chúng hoảng sợ rút quân
đi nơi khác.
15
Sau này, đến ngày toàn thắng, Lê Lợi đã ban thưởng cho Đào
Thị Huệ và đội dân binh đất Đào Đặng. Dân địa phương xin đổi
tên làng thành Đào Xá (nơi ở của cô gái họ Đào). Sau khi cô mất,
dân làng đã lập miếu thờ (đến nay vẫn còn). Những đội dân binh
như thế đã góp phần làm suy yếu lực lượng và tinh thần quân giặc,
tạo điều kiện cho nghĩa quân Lam Sơn thắng những trận lẫy lừng.
Nhiều đội tham gia vào lực lượng nghĩa quân khiến quân số của
Lam Sơn ngày một đông.
16
Ngày 12 tháng 8 năm
Bính Ngọ (tức 13/9/1426),
đạo quân thứ nhất đã lợi dụng
địa hình hiểm trở ở Ninh
Kiều (xã Ngọc Sơn, Chương
Mỹ, Hà Nội ngày nay) để mai
phục rồi cho tướng Phạm Văn
Xảo giả vờ đánh vào Đông Quan
rồi thua chạy. Chủ quan, tướng giặc
Trần Trí đốc sức đuổi theo. Đến Ninh Kiều, quân mai phục của
Lam Sơn nhất tề xông ra đánh, diệt tại chỗ hơn 2000 tên, Trần Trí
hốt hoảng cùng tàn quân bỏ chạy một mạch về thành Đông Quan.
17
Ngay sau trận thắng lớn này, các tướng chỉ huy đạo quân thứ
nhất đã nhanh chóng xây dựng Ninh Kiều thành một khu căn cứ
lợi hại và vững chắc. Để bảo vệ căn cứ mới lập, đạo quân này chia
làm hai bộ phận. Một do Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cầm đầu,
dẫn hơn 1000 quân tiến đến miền Tam Giang (Phú Thọ) để sẵn
sàng chặn đánh viện binh của giặc. Bộ phận còn lại khoảng 2000
quân do tướng Lý Triện và Đỗ Bí chỉ huy, vừa xây dựng căn cứ,
vừa uy hiếp Đông Quan.
18
Bấy giờ tại Đông Quan, Trần
Trí cho quân tu bổ thành trì, vừa
bí mật sai người tới các thành Tây
Đô, Diễn Châu và Nghệ An gọi
Phương Chính, Lý An rút quân
về để cùng nhau “giữ lấy nơi căn
bản”. Ý đồ của giặc là hội quân
để phòng ngự và chờ viện binh.
Bọn dưới quyền như Viên Lượng,
Đào Sâm, Vương Miễn, Từ Quảng
và Triều Phụ được lệnh đem quân
ra ngoài thành đánh quân của Lý
Triện và Đỗ Bí để giải vây.
19
Ngày 20 tháng 9 năm
Bính Ngọ (20/10/1426), thấy
quân Lam Sơn chống cự yếu
ớt rồi rút về phía cầu Nhân
Mục(*), Viên Lượng lập tức
đuổi theo. Tên ngụy quan Hà
Gia Khánh ra sức can ngăn
nói qua đó dễ có phục binh,
không nên đánh đuổi nữa.
Nhưng Lượng không chịu
nghe, lệnh cho Đào Sâm và
Tiền Phụ dẫn quân băng qua
cầu.
* Cầu bắc qua sông Tô Lịch, nối
Đông Quan với Ninh Kiều, nay
thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ
Liêm, Hà Nội.
20
Khi toán quân tiên phong của Đào Sâm và Tiền Phụ vừa lọt vào
ổ mai phục, quân Lam Sơn liền nhất loạt xông ra, vừa tấn công
vừa chia cắt đội hình giặc để tiêu diệt. Ngay từ phút đầu tiên, giặc
đã rơi vào thế bị động. Đào Sâm, Tiền Phụ và một tướng khác là
Triệu Trinh bị chém đầu, hơn 1000 tên giặc bị diệt tại chỗ còn
Viên Lượng thì bị bắt sống. Chiến thắng Nhân Mục đã đập tan
mưu đồ của Trần Trí trong việc giải vây Đông Quan, từ đây chúng
chỉ cố thủ trong thành.
21
Trong khi đó, ở vùng Xa
Lộc(*), Phạm Văn Xảo và Trịnh
Khả cũng chặn đánh quyết liệt
khoảng một vạn tên (viện binh)
do tướng Vương An Lão cầm
đầu từ Vân Nam kéo sang. Bị bất
ngờ, chúng không kịp trở tay, bị
giết hơn 1000 tên. Số còn lại bỏ
chạy về thành Tam Giang.
* Còn có tên khác là Ròng Rọc, Đồng
Rọc, nay thuộc làng Tứ Xã, Lâm Thao,
Phú Thọ.
22
Lúc này Lý An, Phương
Chính ở Nghệ An cũng đã nhận
được mật lệnh của Trần Trí.
Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ
(17/10/1426), chúng vội giao
việc canh giữ thành cho Thái
Phúc rồi lợi dụng đêm tối, đem
phần lớn lực lượng theo đường
thủy rút về Đông Quan.
23
Lê Lợi bấy giờ vẫn đang đóng quân ở Nghệ An. Được tin bọn
giặc rút chạy, ông liền hội các tướng, nhận định: “Quân Minh đang
lâm vào thế bị động và suy yếu. Lam Sơn phải nhanh chóng chớp
lấy cơ hội để vừa xiết chặt vòng vây đối với bọn giặc ngoan cố
bám chặt thành trì, vừa truy đuổi và tiêu diệt bọn giặc đang tháo
chạy không cho chúng hội quân tại Đông Quan”.
24
Sau đó, lực lượng Lam Sơn được chia
làm hai: Các tướng Lê Ngân, Lê Văn
An, Nguyễn Thận, Lê Văn Linh, Lê Bội,
Lê Lĩnh và Bùi Quốc Hưng chỉ huy quân
sĩ ở lại bao vây và uy hiếp bọn giặc trong
thành Nghệ An. Lê Lợi và các tướng còn
lại đem phần lớn lực lượng tức tốc đuổi
theo bọn giặc đang tháo chạy.
25
Nhưng lúc ấy, Phương Chính và Lý An đã chạy quá xa, quân
Lam Sơn dẫu rất cố gắng vẫn không sao đuổi kịp. Trước thực tế
ấy, Lê Lợi chuyển ngay kế hoạch truy đuổi bằng việc tạm dừng
ở Lỗi Giang (Thanh Hóa) để củng cố vùng đã giải phóng và trực
tiếp kiểm tra lực lượng đang tiến hành bao vây thành Tây Đô.
26
Về phần Trần Trí, sau thất bại ở Ninh Kiều, đã liên tiếp sai
người mang thư về triều đình nhà Minh kêu cứu thảm thiết. Vua
Minh tuy đã nản bởi những tổn thất ở Giao Chỉ nhưng cuối tháng
10 năm Bính Ngọ (1426), lại tiếp tục sai viên võ quan lão luyện
của nhà Minh là Thành Sơn hầu Vương Thông đem 5 vạn quân
sang nước ta để thay cho Trần Trí. Đầu tháng 11 năm ấy, Vương
Thông đã có mặt ở Đông Quan.
27
Ngay khi vừa bước chân vào thành, nghe bẩm báo tình hình
hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn, Tổng binh Vương Thông đã
tức tốc huy động 10 vạn quân, dự định chia làm ba đạo đánh vào
Ninh Kiều nhằm tiêu diệt lực lượng nghĩa quân đang bao vây và
uy hiếp Đông Quan để từ đó mở đường tiến vào Thanh Hóa và
Nghệ An. Thấy lực lượng được tăng cường lại có tướng tổng chỉ
huy mới nên tinh thần của quân Minh dần được củng cố.
28
Đạo quân thứ nhất sẽ do đích thân Vương Thông chỉ huy, vượt
cầu Tây Dương (tức cầu Giấy, nay thuộc Hà Nội) rồi chiếm đóng
bằng được bến Cổ Sở (tức bến Giá, nay thuộc xã Yên Sở, Hoài
Đức, Hà Nội). Đây là một bến đò quan trọng của sông Đáy, nằm
trên đường từ phía tây nối với Đông Quan. Chiếm được vị trí này
có thể uy hiếp phía bắc cứ điểm Ninh Kiều.
29
Đạo quân thứ hai do hai viên tướng mới tháo chạy từ Nghệ An
ra là Phương Chính và Lý An chỉ huy, băng qua Yên Quyết rồi
đến đóng ở cầu Sa Đôi. Vị trí này thuộc Từ Liêm, Hà Nội ngày
nay. Bến Sa Đôi cũng là một bến đò quan trọng của sông Nhuệ ở
phía tây Đông Quan, tạo thế thuận lợi để hợp đồng tác chiến với
đạo quân thứ nhất.
30
Đạo quân thứ ba do các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ cầm đầu, vượt
cầu Nhân Mục ở Từ Liêm rồi lên đóng tại Thanh Oai (nay thuộc
Hà Nội). Địa điểm này án ngữ các tuyến giao thông thủy bộ ở
mặt tây nam của Đông Quan và cũng nằm ở phía đông nam của
cứ điểm Ninh Kiều. Cả ba đạo quân này tạo nên một trận đồ nguy
hiểm, thể hiện được quyết tâm rất cao của giặc.
31
Ngày 5 tháng 11 năm 1426, Vương Thông hạ lệnh xuất quân.
Ngay tối hôm ấy, ba đạo quân Minh đã chiếm lĩnh được ba vị trí
rất lợi hại là Cổ Sở, Sa Đôi và Thanh Oai, đúng như kế hoạch.
32
Lúc này quân Lam Sơn tại căn cứ Ninh Kiều có khoảng 4000
người, ít hơn quân giặc bội phần. Trước tình thế nguy nan, các
tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả và Đỗ Bí cùng nhau
bàn bạc và quyết định: Muốn xoay chuyển tình thế thì chỉ có một
cách là chủ động tấn công. Và trong điều kiện không thể cùng một
lúc tấn công cả ba đạo quân giặc thì trước hết phải chọn nơi nào
dễ đánh hơn cả. Cuối cùng họ đã chọn được Thanh Oai.
33
Tướng chỉ huy đạo quân giặc ở Thanh Oai là Sơn Thọ, Mã Kỳ
vốn là hai tên hoạn quan tàn bạo, đã từng bị quân Lam Sơn cho
nếm nhiều thất bại cay đắng nên bị khiển trách và bị cách chức.
Bấy giờ chúng đang được cho lập công chuộc tội nên rất hung
hăng. Tuy nhiên, so với hai đạo quân kia thì số quân ở đây ít hơn,
lại chỉ có một thành đất hẹp và cũ không đủ đóng quân. Phần lớn
quân giặc phải hạ trại ở giữa đồng trống.
34
Để kéo giặc ra khỏi thành lũy và dinh trại của chúng, các tướng
Lam Sơn đã cho quân bí mật mai phục ở cánh đồng Cổ Lãm(*),
một vị trí nằm trên đường từ Thanh Oai về Đông Quan. Đây là nơi
vừa có đất gò vừa có đầm lầy nhưng trống trải khiến quân Minh
không hề nghi ngờ quân Lam Sơn dám đóng ở đó. Trong khi thực
sự, quân Lam Sơn đã ém dưới những lùm cây, sau các mô đất và
trong la liệt những chụm rạ mà dân vừa gặt lúa để lại.
* Xưa thuộc tổng Thắng Lãm, tên Nôm là tổng Sốm, nay thuộc các xã Phú Lãm,
Phú Cường và Văn Khuê, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
35
Chập tối ngày 25/11/1426, một bộ phận của Lam Sơn bắt đầu
đánh vào Thanh Oai. Thấy quân số của Lam Sơn ít ỏi, Sơn Thọ
và Mã Kỳ ồ ạt phản công, hy vọng nhanh chóng lập công chuộc
tội. Toán quân Lam Sơn vừa đánh vừa rút dần ra khỏi Cổ Lãm.
Cả hai tên thúc quân đuổi gấp theo. Khi giặc lọt vào ổ phục kích,
quân Lam Sơn nhất tề xông ra. Giặc quá bất ngờ, không kịp phản
ứng, bị dồn vào giữa đồng lầy và bị tiêu diệt trên 1000 tên, 500
tên bị bắt sống. Sơn Thọ và Mã Kỳ hốt hoảng bỏ cả quân chạy
thục mạng về Đông Quan.
36
Sau khi truy đuổi đến cầu Nhân Mục, thấy giặc đã chạy khá
xa, các tướng Lam Sơn quyết định cho quân quay lại đánh thẳng
vào dinh trại giặc ở Sa Đôi. Khi nghe tin Sơn Thọ và Mã Kỳ đại
bại, Phương Chính và Lý An cũng vội rút quân. Tức tối vì kế
hoạch đầu tiên chưa đánh đã bại, Vương Thông hạ lệnh hội quân
về Cổ Sở để đánh Ninh Kiều. Số quân lúc này chỉ còn chưa đầy
9 vạn. Để đề phòng bị tấn công bất ngờ, Vương Thông sai quân
canh gác nghiêm ngặt tất cả mọi ngả đường và cắm cả chông sắt
để chống lại voi chiến.
37
Tại Ninh Kiều, các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả
và Đỗ Bí theo dõi chặt chẽ và nắm chắc ý đồ của Vương Thông.
Một quyết định đúng đắn đã được các tướng nhất trí tán thành và
lập tức thực hiện, đó là cho quân rút khỏi Ninh Kiều, tránh sự phản
công của giặc. Vì vậy, khi quân Minh tràn vào thì Ninh Kiều đã
vắng lặng, không một bóng người. Vương Thông tức
giận ra lệnh hạ trại đóng ngay tại đó và tung quân
thám sát truy tìm lực lượng của Lam Sơn.
38
Quân Lam Sơn sau khi rút khỏi Ninh Kiều đã về đóng tại Cao
Bộ . Đây là khu đồi có nhiều cây cối rậm rạp, xen giữa những
dải ruộng bùn lầy tạo nên một địa thế hiểm yếu, thuận lợi cho việc
phòng ngự. Lúc này, đạo quân thứ ba của Lam Sơn với 300 nghĩa
sĩ và một thớt voi, do các tướng Đinh Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy
cũng đã bắt được liên lạc và đã bí mật đến Cao Bộ để hội quân
vào đêm 6/11/1426.
(*)
* Tên Nôm là làng Bụa, nay thuộc Hà Nội.
39
Khi biết quân Lam Sơn đang đóng ở Cao Bộ,
Vương Thông chia quân làm hai mũi: Mũi đánh
trực diện vào Cao Bộ gọi là mũi chính binh, còn
mũi bí mật luồn ra sau gọi là mũi kỳ binh. Vương
Thông còn căn dặn: Bất kể mũi nào nếu
tiến được vào Cao Bộ thì phải đốt lửa và
nổi pháo hiệu để mũi kia tiến nhanh cùng
phối hợp, không để quân Lam Sơn chạy
thoát. Kế hoạch này chứng tỏ Vương
Thông thực sự là một viên tướng có tài.
40
Nhưng, thật tiếc cho Vương Thông, các tướng Lam Sơn cũng
khôn khéo không kém. Quân do thám của Lam Sơn luôn bám sát
mọi động tĩnh của giặc nên biết trước mưu toan của hắn. Cả hai
đạo quân Lam Sơn nhanh chóng rút quân khỏi Cao Bộ, chỉ để lại
một toán nhỏ làm nhiệm vụ nghi binh. Toán quân này đốt nhiều
bếp lửa như đang nấu cơm cho một lực lượng đông quân sĩ và vẫn
nổi trống báo canh như thường lệ.
41
Rút khỏi Cao Bộ, hai đạo quân Lam Sơn chia nhau bố trí mai
phục tại hai vị trí hiểm yếu để chờ giặc. Một là ở làng Tốt Động
(tên Nôm là làng Rét thuộc Hà Nội), nơi mà quân Minh từ Ninh
Kiều muốn đến được Cao Bộ thì nhất định phải đi qua. Đây là
một làng lớn, dân định cư đã rất lâu đời. Đất Tốt Động là đất đồng
chiêm trũng, quanh năm bùn lầy nước đọng.
42
Vị trí thứ hai là Chúc Động, chỉ cách Tốt
Động chừng 6 cây số, đồng ruộng cũng lầy
lội và thuận tiện cho việc ém quân. Nhưng
bố trí mai phục ở đây là việc làm táo bạo vì
nơi này nằm sát Ninh Kiều, nơi đạo quân của
Vương Thông đang đóng. Chỉ cần một sơ suất
nhỏ cũng có thể dẫn tới những nguy hiểm khó
lường.
43
Rạng sáng ngày 7/11/1426, hai
mũi chính binh và kỳ binh của
giặc cùng nhất loạt tiến vào Cao
Bộ đúng với kế hoạch dự kiến ban
đầu. Chúng kéo qua Chúc Động mà
không hề biết có quân Lam Sơn ở
đó. Mũi chính binh do đích thân
Vương Thông chỉ huy có quân số
rất đông, cho nên, khi những tên lính
đầu tiên đã đến Tốt Động thì những
tên cuối cùng vẫn còn ở tận Chúc
Động.
44
Đại quân Vương Thông vừa đến Tốt Động thì bỗng nghe pháo
hiệu nổ ran ở phía Cao Bộ, sau đó một lát lại thấy lửa cháy rực
trời. Ngỡ mũi kỳ binh đã chiếm được Cao Bộ, Vương Thông cho
quân tràn xuống cánh đồng Tốt Động để nhanh
chóng đến tiếp ứng. Lập tức chúng bị sa
lầy, đang lúng túng thì bị quân Lam Sơn
mai phục ở cả hai đầu đổ ra đánh.
45
46
Từ Tốt Động và Chúc Động, voi chiến của Lam Sơn gầm lên,
chia cắt đội hình giặc để bộ binh dễ dàng tiến đánh. Hàng ngũ
của giặc rối loạn hoàn toàn, chúng chỉ còn biết xô đẩy, giẫm đạp
lên nhau, mạnh kẻ nào kẻ ấy tìm đường thoát thân. Thượng thư
Trần Hiệp (lúc này đang giữ chức Tham tán Quân vụ trong đội
quân của Vương Thông) thúc ngựa tiến lên hòng chấn chỉnh đội
ngũ, nhưng chưa kịp làm gì thì đã bị giết chết. Vương Thông lúc
ấy cũng đã bị trúng một mũi tên ở cạnh sườn, chẳng dám dừng
lại để nhổ, cứ thế tháo chạy một mạch.
47
Mũi kỳ binh của giặc biết chính binh đã đại bại liền tháo chạy
trở về Ninh Kiều. Tới Chúc Động, chúng lại bị quân Lam Sơn
đánh cho tơi bời. Định chạy về Đông Quan thì chiếc cầu lúc này
đã bị quân Lam Sơn phá hủy. Phía trước là dòng sông rộng, phía
sau là quân Lam Sơn truy đuổi. Những lùm cây ở sườn đồi gần
đó bị quân Lam Sơn đốt trụi, khói lửa ngút trời. Giặc Minh cùng
đường, lớp bị tên bắn, lớp nhảy xuống sông, lớp dẫm đạp lên nhau
chết không biết bao nhiêu mà kể.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt
Biên tập hình ảnh: Lê Tường Thanh
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Bao vây thành Đông Quan/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn;
họa sĩ Nguyễn Huy. - Tái bản lần thứ 3. TP. Hồ Chí Minh; Trẻ 2013.
80tr.; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.34).
1. Việt Nam – Lịch sử – Triều nhà hậu Lê, 1427–1527 – Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam – History – Later Lê dynasty, 1427–1527 – Pictorial works.
959.7026 — dc 22
B221
LỜI GIỚI THIỆU
Sau khi giải phóng được một vùng đất rộng lớn và
liên hoàn từ Thanh Hóa trở vào Nam, nghĩa quân Lam
Sơn đã đĩnh đạc bước sang một giai đoạn chiến đấu
hoàn toàn mới, với tư thế hiên ngang của đạo quân
quyết chí thay đổi cục diện chiến trường: Chủ động
tấn công và tiêu diệt quân xâm lăng bằng những trận
quyết chiến chiến lược có quy mô lớn để rồi đè bẹp
và quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi. Giai đoạn
sau cùng này của Lam Sơn (tháng 9 năm 1426 đến
hết năm 1427) gồm rất nhiều sự kiện sôi động và có
ý nghĩa vô cùng lớn lao. Độc lập, tự chủ đang đến
gần hơn với người dân Đại Việt.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 34
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Bao vây thành
Đông Quan” phần lời do Nguyễn Khắc Thuần biên
soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 34
của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Trong giai đoạn cuối cùng của khởi nghĩa Lam Sơn,
chiến thắng của trận quyết chiến chiến lược Tốt Động Chúc Động có vai trò vô cùng quan trọng. Đây là trận mà
Nguyễn Trãi từng mô tả trong Bình Ngô đại cáo:
Ninh Kiều: máu chảy thành sông, tanh hôi muôn dặm
Tốt Động: thây phơi đầy nội, thối để ngàn thu...
Từ chiến thắng này, nghĩa quân Lam Sơn đã bắt đầu
tiến hành cuộc bao vây và tấn công thành Động Quan, cứ
điểm cuối cùng của quân Minh trên đất nước ta.
4
Tháng 7 năm 1425, Minh Nhân Tông qua đời sau thời gian ở
ngôi chưa đầy một năm (từ tháng 8 năm 1424 đến tháng 7 năm
1425), Thái tử Chiêm Cơ lên nối ngôi, đó là vua Minh Tuyên Tông
(1425-1434). Bấy giờ nhà Minh đã tỏ rõ sự chán nản vì hao người
tốn của quá lớn trong cuộc xâm lược nước ta. Ý định tìm con cháu
họ Trần để lập làm vua đã bắt đầu xuất hiện. Vua Tuyên Tông
nói với triều thần rằng: “Làm như thế tất không tránh khỏi tiếng
đàm tiếu rằng trẫm đã bỏ mất cơ nghiệp của tổ tiên. Nhưng việc
dựng lại triều Trần sụp đổ cũng chính là ý của Hoàng tổ ta vậy”.
5
Để thực hiện ý đồ này, Tuyên Tông chủ trương thực hiện chính
sách hai mặt đối với nước ta. Một mặt là tìm mọi cách để xoa dịu
lòng căm phẫn của nhân dân ta, nhưng mặt khác vẫn đẩy mạnh
các cuộc tấn công đàn áp nhằm nhanh chóng lập lại sự ổn định
cho nền đô hộ của chúng. Một loạt các tướng lĩnh nhà Minh bị
cách chức, nhưng được phép lập công để chuộc tội.
6
Trong lúc đó, từ thành Lục Niên,
Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn đã
có một quyết định táo bạo: Tấn công
vào các địa phương khu vực đồng
bằng sông Hồng để uy hiếp trực tiếp
quân giặc ở thành Đông Quan. Vì
vậy, Lam Sơn quyết định huy động
đến gần một vạn quân, chia làm ba
đạo, vào tháng 9 năm 1426 thì bắt
đầu làm lễ tế cờ xuất binh.
7
Đạo quân thứ nhất gồm hơn
3000 nghĩa sĩ và một thớt voi
chiến, do các tướng Phạm Văn
Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả và Đỗ
Bí chỉ huy, có nhiệm vụ băng
qua Ninh Bình, Hà Nam, Nam
Định, Hòa Bình, Phú Thọ và
Vĩnh Phúc ngày nay để tấn công
vào mặt Nam thành Đông Quan.
Ngoài ra còn phòng bị quân giặc
từ Vân Nam có thể đến ứng cứu.
8
Đạo quân thứ hai lúc đầu chỉ
có 2000 nghĩa sĩ và một thớt voi
do các tướng Bùi Bị, Lưu Nhân
Chú, Lê Trương và Lê Ninh
chỉ huy, đánh vào khu vực hạ
lưu sông Hồng đồng thời chặn
giặc từ Tây Đô và Nghệ An tháo
chạy ra. Nhưng sau đó Lê Lợi
lại bổ sung thêm 2000 quân và
một thớt voi do Lê Bồi và Lê
Vị Canh chỉ huy với nhiệm vụ
chặn viện binh giặc nếu chúng
từ vùng Lưỡng Quảng kéo sang.
9
Đạo quân thứ ba gồm khoảng 2000 nghĩa sĩ do các tướng Đinh
Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy, có nhiệm vụ tiến thẳng đến thành Đông
Quan, vừa phô trương thanh thế để uy hiếp quân Minh, vừa sẵn
sàng phối hợp với các đạo quân khác để nhanh chóng giải phóng
vùng đồng bằng và trung du phía Bắc.
10
Tổng số quân Lam Sơn huy động vào cuộc tiến công này tuy
không lớn nhưng họ không đơn độc. Chỗ dựa tinh thần cũng như
vật chất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với họ là sự ủng hộ
mạnh mẽ của nhân dân. Vốn là đội quân giữ kỷ luật rất nghiêm,
không xâm phạm đến tài sản của dân, quân Lam Sơn được nhân
dân giúp đỡ về mọi mặt. Một trong số những người có nhiều đóng
góp to lớn được đời đời ghi nhớ là hai mẹ con người chèo đò bên
sông Đáy.
11
Tương truyền khi quân Lam Sơn tiến đến sông Đáy (thuộc Hà
Nội hiện nay) thì phải dừng lại vì thiếu phương tiện để vượt sông.
Hai mẹ con đã dùng con đò nhỏ của mình lần lượt chở tất cả qua
sông an toàn. Nhờ sự giúp đỡ đắc lực ấy, nghĩa quân Lam Sơn
kịp thời mở những trận đánh bất ngờ, lập được nhiều chiến công
lớn. Sau ngày thắng lợi, triều Lê đã ban thưởng cho mẹ con bà.
Khi hai mẹ con mất, được nhân dân làng Nhân Huệ (Hà Nội) tôn
làm Thành hoàng làng.
12
Thời gian quân Lam Sơn đánh ra Bắc, nhiều vùng ở đây đã tự
thành lập những đội dân binh tìm đủ mọi cách đánh giặc. Một số
đội dân binh có những cách đánh rất sáng tạo, chẳng hạn như đội
dân binh ở đất Đào Đặng thuộc huyện Tiên Lữ (tỉnh Hưng Yên
ngày nay). Trong đội có Đào Thị Huệ nổi tiếng xinh đẹp, hát hay,
múa giỏi; vì vậy cô được giao nhiệm vụ mở quán rượu và tổ chức
những cuộc hát xướng để lôi kéo bọn lính Minh tới xem.
13
Càng ngày, bọn lính Minh càng say
mê xem cô hát múa đến mức đem cả
túi ngủ đến quán để nếu say thì ngủ
lại. Chờ lúc chúng ngủ say, anh em
trong đội liền cột chặt miệng túi rồi
khiêng quẳng xuống con sông gần đó.
Cứ thế, không biết bao nhiêu tên giặc
đã làm mồi cho cá.
14
Tương truyền hồi đó, để kiểm tra quân số, giặc chưa điểm
quân như bây giờ mà chỉ xây những thành lũy nhỏ hình vuông
có hai cửa gọi là đấu thành. Những tên chỉ huy lùa quân vào cửa
này, hễ đầy thành thì cho ra cửa kia để... đong
quân. Sau nhiều phen đong quân như vậy,
chúng hốt hoảng khi thấy quân số hao
hụt quá nhiều. Nghĩ rằng đất này
có ma, chúng hoảng sợ rút quân
đi nơi khác.
15
Sau này, đến ngày toàn thắng, Lê Lợi đã ban thưởng cho Đào
Thị Huệ và đội dân binh đất Đào Đặng. Dân địa phương xin đổi
tên làng thành Đào Xá (nơi ở của cô gái họ Đào). Sau khi cô mất,
dân làng đã lập miếu thờ (đến nay vẫn còn). Những đội dân binh
như thế đã góp phần làm suy yếu lực lượng và tinh thần quân giặc,
tạo điều kiện cho nghĩa quân Lam Sơn thắng những trận lẫy lừng.
Nhiều đội tham gia vào lực lượng nghĩa quân khiến quân số của
Lam Sơn ngày một đông.
16
Ngày 12 tháng 8 năm
Bính Ngọ (tức 13/9/1426),
đạo quân thứ nhất đã lợi dụng
địa hình hiểm trở ở Ninh
Kiều (xã Ngọc Sơn, Chương
Mỹ, Hà Nội ngày nay) để mai
phục rồi cho tướng Phạm Văn
Xảo giả vờ đánh vào Đông Quan
rồi thua chạy. Chủ quan, tướng giặc
Trần Trí đốc sức đuổi theo. Đến Ninh Kiều, quân mai phục của
Lam Sơn nhất tề xông ra đánh, diệt tại chỗ hơn 2000 tên, Trần Trí
hốt hoảng cùng tàn quân bỏ chạy một mạch về thành Đông Quan.
17
Ngay sau trận thắng lớn này, các tướng chỉ huy đạo quân thứ
nhất đã nhanh chóng xây dựng Ninh Kiều thành một khu căn cứ
lợi hại và vững chắc. Để bảo vệ căn cứ mới lập, đạo quân này chia
làm hai bộ phận. Một do Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cầm đầu,
dẫn hơn 1000 quân tiến đến miền Tam Giang (Phú Thọ) để sẵn
sàng chặn đánh viện binh của giặc. Bộ phận còn lại khoảng 2000
quân do tướng Lý Triện và Đỗ Bí chỉ huy, vừa xây dựng căn cứ,
vừa uy hiếp Đông Quan.
18
Bấy giờ tại Đông Quan, Trần
Trí cho quân tu bổ thành trì, vừa
bí mật sai người tới các thành Tây
Đô, Diễn Châu và Nghệ An gọi
Phương Chính, Lý An rút quân
về để cùng nhau “giữ lấy nơi căn
bản”. Ý đồ của giặc là hội quân
để phòng ngự và chờ viện binh.
Bọn dưới quyền như Viên Lượng,
Đào Sâm, Vương Miễn, Từ Quảng
và Triều Phụ được lệnh đem quân
ra ngoài thành đánh quân của Lý
Triện và Đỗ Bí để giải vây.
19
Ngày 20 tháng 9 năm
Bính Ngọ (20/10/1426), thấy
quân Lam Sơn chống cự yếu
ớt rồi rút về phía cầu Nhân
Mục(*), Viên Lượng lập tức
đuổi theo. Tên ngụy quan Hà
Gia Khánh ra sức can ngăn
nói qua đó dễ có phục binh,
không nên đánh đuổi nữa.
Nhưng Lượng không chịu
nghe, lệnh cho Đào Sâm và
Tiền Phụ dẫn quân băng qua
cầu.
* Cầu bắc qua sông Tô Lịch, nối
Đông Quan với Ninh Kiều, nay
thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ
Liêm, Hà Nội.
20
Khi toán quân tiên phong của Đào Sâm và Tiền Phụ vừa lọt vào
ổ mai phục, quân Lam Sơn liền nhất loạt xông ra, vừa tấn công
vừa chia cắt đội hình giặc để tiêu diệt. Ngay từ phút đầu tiên, giặc
đã rơi vào thế bị động. Đào Sâm, Tiền Phụ và một tướng khác là
Triệu Trinh bị chém đầu, hơn 1000 tên giặc bị diệt tại chỗ còn
Viên Lượng thì bị bắt sống. Chiến thắng Nhân Mục đã đập tan
mưu đồ của Trần Trí trong việc giải vây Đông Quan, từ đây chúng
chỉ cố thủ trong thành.
21
Trong khi đó, ở vùng Xa
Lộc(*), Phạm Văn Xảo và Trịnh
Khả cũng chặn đánh quyết liệt
khoảng một vạn tên (viện binh)
do tướng Vương An Lão cầm
đầu từ Vân Nam kéo sang. Bị bất
ngờ, chúng không kịp trở tay, bị
giết hơn 1000 tên. Số còn lại bỏ
chạy về thành Tam Giang.
* Còn có tên khác là Ròng Rọc, Đồng
Rọc, nay thuộc làng Tứ Xã, Lâm Thao,
Phú Thọ.
22
Lúc này Lý An, Phương
Chính ở Nghệ An cũng đã nhận
được mật lệnh của Trần Trí.
Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ
(17/10/1426), chúng vội giao
việc canh giữ thành cho Thái
Phúc rồi lợi dụng đêm tối, đem
phần lớn lực lượng theo đường
thủy rút về Đông Quan.
23
Lê Lợi bấy giờ vẫn đang đóng quân ở Nghệ An. Được tin bọn
giặc rút chạy, ông liền hội các tướng, nhận định: “Quân Minh đang
lâm vào thế bị động và suy yếu. Lam Sơn phải nhanh chóng chớp
lấy cơ hội để vừa xiết chặt vòng vây đối với bọn giặc ngoan cố
bám chặt thành trì, vừa truy đuổi và tiêu diệt bọn giặc đang tháo
chạy không cho chúng hội quân tại Đông Quan”.
24
Sau đó, lực lượng Lam Sơn được chia
làm hai: Các tướng Lê Ngân, Lê Văn
An, Nguyễn Thận, Lê Văn Linh, Lê Bội,
Lê Lĩnh và Bùi Quốc Hưng chỉ huy quân
sĩ ở lại bao vây và uy hiếp bọn giặc trong
thành Nghệ An. Lê Lợi và các tướng còn
lại đem phần lớn lực lượng tức tốc đuổi
theo bọn giặc đang tháo chạy.
25
Nhưng lúc ấy, Phương Chính và Lý An đã chạy quá xa, quân
Lam Sơn dẫu rất cố gắng vẫn không sao đuổi kịp. Trước thực tế
ấy, Lê Lợi chuyển ngay kế hoạch truy đuổi bằng việc tạm dừng
ở Lỗi Giang (Thanh Hóa) để củng cố vùng đã giải phóng và trực
tiếp kiểm tra lực lượng đang tiến hành bao vây thành Tây Đô.
26
Về phần Trần Trí, sau thất bại ở Ninh Kiều, đã liên tiếp sai
người mang thư về triều đình nhà Minh kêu cứu thảm thiết. Vua
Minh tuy đã nản bởi những tổn thất ở Giao Chỉ nhưng cuối tháng
10 năm Bính Ngọ (1426), lại tiếp tục sai viên võ quan lão luyện
của nhà Minh là Thành Sơn hầu Vương Thông đem 5 vạn quân
sang nước ta để thay cho Trần Trí. Đầu tháng 11 năm ấy, Vương
Thông đã có mặt ở Đông Quan.
27
Ngay khi vừa bước chân vào thành, nghe bẩm báo tình hình
hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn, Tổng binh Vương Thông đã
tức tốc huy động 10 vạn quân, dự định chia làm ba đạo đánh vào
Ninh Kiều nhằm tiêu diệt lực lượng nghĩa quân đang bao vây và
uy hiếp Đông Quan để từ đó mở đường tiến vào Thanh Hóa và
Nghệ An. Thấy lực lượng được tăng cường lại có tướng tổng chỉ
huy mới nên tinh thần của quân Minh dần được củng cố.
28
Đạo quân thứ nhất sẽ do đích thân Vương Thông chỉ huy, vượt
cầu Tây Dương (tức cầu Giấy, nay thuộc Hà Nội) rồi chiếm đóng
bằng được bến Cổ Sở (tức bến Giá, nay thuộc xã Yên Sở, Hoài
Đức, Hà Nội). Đây là một bến đò quan trọng của sông Đáy, nằm
trên đường từ phía tây nối với Đông Quan. Chiếm được vị trí này
có thể uy hiếp phía bắc cứ điểm Ninh Kiều.
29
Đạo quân thứ hai do hai viên tướng mới tháo chạy từ Nghệ An
ra là Phương Chính và Lý An chỉ huy, băng qua Yên Quyết rồi
đến đóng ở cầu Sa Đôi. Vị trí này thuộc Từ Liêm, Hà Nội ngày
nay. Bến Sa Đôi cũng là một bến đò quan trọng của sông Nhuệ ở
phía tây Đông Quan, tạo thế thuận lợi để hợp đồng tác chiến với
đạo quân thứ nhất.
30
Đạo quân thứ ba do các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ cầm đầu, vượt
cầu Nhân Mục ở Từ Liêm rồi lên đóng tại Thanh Oai (nay thuộc
Hà Nội). Địa điểm này án ngữ các tuyến giao thông thủy bộ ở
mặt tây nam của Đông Quan và cũng nằm ở phía đông nam của
cứ điểm Ninh Kiều. Cả ba đạo quân này tạo nên một trận đồ nguy
hiểm, thể hiện được quyết tâm rất cao của giặc.
31
Ngày 5 tháng 11 năm 1426, Vương Thông hạ lệnh xuất quân.
Ngay tối hôm ấy, ba đạo quân Minh đã chiếm lĩnh được ba vị trí
rất lợi hại là Cổ Sở, Sa Đôi và Thanh Oai, đúng như kế hoạch.
32
Lúc này quân Lam Sơn tại căn cứ Ninh Kiều có khoảng 4000
người, ít hơn quân giặc bội phần. Trước tình thế nguy nan, các
tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả và Đỗ Bí cùng nhau
bàn bạc và quyết định: Muốn xoay chuyển tình thế thì chỉ có một
cách là chủ động tấn công. Và trong điều kiện không thể cùng một
lúc tấn công cả ba đạo quân giặc thì trước hết phải chọn nơi nào
dễ đánh hơn cả. Cuối cùng họ đã chọn được Thanh Oai.
33
Tướng chỉ huy đạo quân giặc ở Thanh Oai là Sơn Thọ, Mã Kỳ
vốn là hai tên hoạn quan tàn bạo, đã từng bị quân Lam Sơn cho
nếm nhiều thất bại cay đắng nên bị khiển trách và bị cách chức.
Bấy giờ chúng đang được cho lập công chuộc tội nên rất hung
hăng. Tuy nhiên, so với hai đạo quân kia thì số quân ở đây ít hơn,
lại chỉ có một thành đất hẹp và cũ không đủ đóng quân. Phần lớn
quân giặc phải hạ trại ở giữa đồng trống.
34
Để kéo giặc ra khỏi thành lũy và dinh trại của chúng, các tướng
Lam Sơn đã cho quân bí mật mai phục ở cánh đồng Cổ Lãm(*),
một vị trí nằm trên đường từ Thanh Oai về Đông Quan. Đây là nơi
vừa có đất gò vừa có đầm lầy nhưng trống trải khiến quân Minh
không hề nghi ngờ quân Lam Sơn dám đóng ở đó. Trong khi thực
sự, quân Lam Sơn đã ém dưới những lùm cây, sau các mô đất và
trong la liệt những chụm rạ mà dân vừa gặt lúa để lại.
* Xưa thuộc tổng Thắng Lãm, tên Nôm là tổng Sốm, nay thuộc các xã Phú Lãm,
Phú Cường và Văn Khuê, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
35
Chập tối ngày 25/11/1426, một bộ phận của Lam Sơn bắt đầu
đánh vào Thanh Oai. Thấy quân số của Lam Sơn ít ỏi, Sơn Thọ
và Mã Kỳ ồ ạt phản công, hy vọng nhanh chóng lập công chuộc
tội. Toán quân Lam Sơn vừa đánh vừa rút dần ra khỏi Cổ Lãm.
Cả hai tên thúc quân đuổi gấp theo. Khi giặc lọt vào ổ phục kích,
quân Lam Sơn nhất tề xông ra. Giặc quá bất ngờ, không kịp phản
ứng, bị dồn vào giữa đồng lầy và bị tiêu diệt trên 1000 tên, 500
tên bị bắt sống. Sơn Thọ và Mã Kỳ hốt hoảng bỏ cả quân chạy
thục mạng về Đông Quan.
36
Sau khi truy đuổi đến cầu Nhân Mục, thấy giặc đã chạy khá
xa, các tướng Lam Sơn quyết định cho quân quay lại đánh thẳng
vào dinh trại giặc ở Sa Đôi. Khi nghe tin Sơn Thọ và Mã Kỳ đại
bại, Phương Chính và Lý An cũng vội rút quân. Tức tối vì kế
hoạch đầu tiên chưa đánh đã bại, Vương Thông hạ lệnh hội quân
về Cổ Sở để đánh Ninh Kiều. Số quân lúc này chỉ còn chưa đầy
9 vạn. Để đề phòng bị tấn công bất ngờ, Vương Thông sai quân
canh gác nghiêm ngặt tất cả mọi ngả đường và cắm cả chông sắt
để chống lại voi chiến.
37
Tại Ninh Kiều, các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả
và Đỗ Bí theo dõi chặt chẽ và nắm chắc ý đồ của Vương Thông.
Một quyết định đúng đắn đã được các tướng nhất trí tán thành và
lập tức thực hiện, đó là cho quân rút khỏi Ninh Kiều, tránh sự phản
công của giặc. Vì vậy, khi quân Minh tràn vào thì Ninh Kiều đã
vắng lặng, không một bóng người. Vương Thông tức
giận ra lệnh hạ trại đóng ngay tại đó và tung quân
thám sát truy tìm lực lượng của Lam Sơn.
38
Quân Lam Sơn sau khi rút khỏi Ninh Kiều đã về đóng tại Cao
Bộ . Đây là khu đồi có nhiều cây cối rậm rạp, xen giữa những
dải ruộng bùn lầy tạo nên một địa thế hiểm yếu, thuận lợi cho việc
phòng ngự. Lúc này, đạo quân thứ ba của Lam Sơn với 300 nghĩa
sĩ và một thớt voi, do các tướng Đinh Lễ và Nguyễn Xí chỉ huy
cũng đã bắt được liên lạc và đã bí mật đến Cao Bộ để hội quân
vào đêm 6/11/1426.
(*)
* Tên Nôm là làng Bụa, nay thuộc Hà Nội.
39
Khi biết quân Lam Sơn đang đóng ở Cao Bộ,
Vương Thông chia quân làm hai mũi: Mũi đánh
trực diện vào Cao Bộ gọi là mũi chính binh, còn
mũi bí mật luồn ra sau gọi là mũi kỳ binh. Vương
Thông còn căn dặn: Bất kể mũi nào nếu
tiến được vào Cao Bộ thì phải đốt lửa và
nổi pháo hiệu để mũi kia tiến nhanh cùng
phối hợp, không để quân Lam Sơn chạy
thoát. Kế hoạch này chứng tỏ Vương
Thông thực sự là một viên tướng có tài.
40
Nhưng, thật tiếc cho Vương Thông, các tướng Lam Sơn cũng
khôn khéo không kém. Quân do thám của Lam Sơn luôn bám sát
mọi động tĩnh của giặc nên biết trước mưu toan của hắn. Cả hai
đạo quân Lam Sơn nhanh chóng rút quân khỏi Cao Bộ, chỉ để lại
một toán nhỏ làm nhiệm vụ nghi binh. Toán quân này đốt nhiều
bếp lửa như đang nấu cơm cho một lực lượng đông quân sĩ và vẫn
nổi trống báo canh như thường lệ.
41
Rút khỏi Cao Bộ, hai đạo quân Lam Sơn chia nhau bố trí mai
phục tại hai vị trí hiểm yếu để chờ giặc. Một là ở làng Tốt Động
(tên Nôm là làng Rét thuộc Hà Nội), nơi mà quân Minh từ Ninh
Kiều muốn đến được Cao Bộ thì nhất định phải đi qua. Đây là
một làng lớn, dân định cư đã rất lâu đời. Đất Tốt Động là đất đồng
chiêm trũng, quanh năm bùn lầy nước đọng.
42
Vị trí thứ hai là Chúc Động, chỉ cách Tốt
Động chừng 6 cây số, đồng ruộng cũng lầy
lội và thuận tiện cho việc ém quân. Nhưng
bố trí mai phục ở đây là việc làm táo bạo vì
nơi này nằm sát Ninh Kiều, nơi đạo quân của
Vương Thông đang đóng. Chỉ cần một sơ suất
nhỏ cũng có thể dẫn tới những nguy hiểm khó
lường.
43
Rạng sáng ngày 7/11/1426, hai
mũi chính binh và kỳ binh của
giặc cùng nhất loạt tiến vào Cao
Bộ đúng với kế hoạch dự kiến ban
đầu. Chúng kéo qua Chúc Động mà
không hề biết có quân Lam Sơn ở
đó. Mũi chính binh do đích thân
Vương Thông chỉ huy có quân số
rất đông, cho nên, khi những tên lính
đầu tiên đã đến Tốt Động thì những
tên cuối cùng vẫn còn ở tận Chúc
Động.
44
Đại quân Vương Thông vừa đến Tốt Động thì bỗng nghe pháo
hiệu nổ ran ở phía Cao Bộ, sau đó một lát lại thấy lửa cháy rực
trời. Ngỡ mũi kỳ binh đã chiếm được Cao Bộ, Vương Thông cho
quân tràn xuống cánh đồng Tốt Động để nhanh
chóng đến tiếp ứng. Lập tức chúng bị sa
lầy, đang lúng túng thì bị quân Lam Sơn
mai phục ở cả hai đầu đổ ra đánh.
45
46
Từ Tốt Động và Chúc Động, voi chiến của Lam Sơn gầm lên,
chia cắt đội hình giặc để bộ binh dễ dàng tiến đánh. Hàng ngũ
của giặc rối loạn hoàn toàn, chúng chỉ còn biết xô đẩy, giẫm đạp
lên nhau, mạnh kẻ nào kẻ ấy tìm đường thoát thân. Thượng thư
Trần Hiệp (lúc này đang giữ chức Tham tán Quân vụ trong đội
quân của Vương Thông) thúc ngựa tiến lên hòng chấn chỉnh đội
ngũ, nhưng chưa kịp làm gì thì đã bị giết chết. Vương Thông lúc
ấy cũng đã bị trúng một mũi tên ở cạnh sườn, chẳng dám dừng
lại để nhổ, cứ thế tháo chạy một mạch.
47
Mũi kỳ binh của giặc biết chính binh đã đại bại liền tháo chạy
trở về Ninh Kiều. Tới Chúc Động, chúng lại bị quân Lam Sơn
đánh cho tơi bời. Định chạy về Đông Quan thì chiếc cầu lúc này
đã bị quân Lam Sơn phá hủy. Phía trước là dòng sông rộng, phía
sau là quân Lam Sơn truy đuổi. Những lùm cây ở sườn đồi gần
đó bị quân Lam Sơn đốt trụi, khói lửa ngút trời. Giặc Minh cùng
đường, lớp bị tên bắn, lớp nhảy xuống sông, lớp dẫm đạp lên nhau
chết không biết bao nhiêu mà kể.
48
 






