CA KHÚC HÀNH KHÚC NGƯỜI LÁI ĐÒ

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z4999043462983_2be1d887d99d54bb6aa1f2b7ee9bc046.jpg Z4900493151502_f26fdb80fb60695ce1f9714d622cdf91.jpg

    BÁC HỒ VỚI GIÁO DỤC

    CHA MẸ THÔNG THÁI

    web-share" allowfullscreen>

    LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3

    CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Lịch sử Việt Nam t37

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 22h:26' 09-03-2024
    Dung lượng: 5.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ 4

    Hình vẽ do phòng “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data

    Nguyễn Trãi / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa sĩ Nguyễn
    Huy. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
    100 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.37).
    1. Nguyễn Trãi, 1380-1442 — Tiểu sử. 2. Danh nhân — Việt Nam — Sách tranh. 3.
    Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà hậu Lê, 1427-1527 — Sách tranh. 4. Việt Nam — Vua và
    quần thần — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt
    Nam bằng tranh.
    1. Nguyễn Trãi, 1380-1442 — Biography. 2. Celebrities —Vietnam — Pictorial works. 3.
    Vietnam — History — Later Le dynasty, 1427-1527 — Pictorial works. 4. Vietnam -- Kings
    and rulers — Pictorial works.
    959.7026 — dc 22
    N573

    LỜI GIỚI THIỆU
    Sinh ra trong buổi đất nước nguy biến, giặc Minh xâm lược, tài
    năng cùng sự mẫn cảm với thời thế đã đưa Nguyễn Trãi đến với
    nghĩa quân Lam Sơn, góp công lớn đưa sự nghiệp giải phóng dân
    tộc đến thắng lợi hoàn toàn.
    Đất nước hòa bình, Nguyễn Trãi hăm hở với hoài bão xây dựng,
    tái thiết đất nước sau những ngày dài bị tàn phá nhưng những người
    kề vai sát cánh ngày xưa ấy giờ lại là rào cản cho sự đi lên của
    nước nhà. Cám cảnh quan trường, ông lui về ở ẩn, lánh đi thế sự
    chán chường.
    Ngỡ rằng bậc danh nhân hiếm có ấy sẽ có thể vui thú điền viên
    nhưng có ai ngờ rằng người ấy lại phải chịu những oan khiên thảm
    khốc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta. Nguyễn Trãi bị kéo vào
    vụ án Lệ Chi viên, bị gian thần vu tội sát vua, phải chịu án tru di
    tam tộc.
    Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi,
    tìm con cháu, sưu tầm lại thơ văn của ông và khẳng định nhân cách,
    tấm lòng, tâm hồn lớn của Nguyễn Trãi với câu nói nổi tiếng “Ức
    Trai tâm thượng quang khuê tảo”.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 37 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh “Nguyễn Trãi” phần lời do Nguyễn Khắc
    Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 37 của bộ Lịch
    sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Nguyễn Trãi (1380-1442) là người anh hùng dân tộc,
    bậc danh nhân văn hóa lớn trong lịch sử nước ta. Nhưng
    ông cũng là người phải chịu những oan khiên thảm khốc
    nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta bởi những
    mưu đồ chính trị lúc bấy giờ.
    Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan,
    tìm kiếm con cháu và cho sưu tầm lại thơ văn của ông.
    Năm 1980, UNESCO công nhận ông là Danh nhân văn
    hóa thế giới và đã đưa tên tuổi ông đến với nhiều học giả
    trên thế giới.

    Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, chào đời năm Canh Thân (1380)
    tại kinh thành Thăng Long. Cha ông là Nguyễn Ứng Long người
    làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (nay thuộc huyện Chí Linh,
    tỉnh Hải Dương), sau dời về làng Nhị Khê (tức làng Ngọc Ổi cũ),
    huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã
    Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín,
    Hà Nội). Thời trai trẻ, Nguyễn
    Ứng Long nổi tiếng là hay chữ
    nhưng vì nhà nghèo nên phải đi
    làm gia sư.

    5

    Mẹ của Nguyễn Trãi là Trần Thị Thái, con gái yêu của quan
    Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán (1326-1390), thuộc dòng dõi của
    Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Nhờ có công phò giúp Trần
    Nghệ Tông đánh kẻ tiếm ngôi là Nhật Lễ nên Trần Nguyên Đán
    được phong làm Tể tướng. Ông làm quan trải bốn đời vua là Trần
    Dụ Tông (1341-1369), Trần Nghệ Tông (1370-1372), Trần Duệ
    Tông (1372-1377) và Trần Phế Đế (1377-1388).

    6

    Trần Nguyên Đán còn là nhà thiên văn và lịch pháp nổi tiếng
    của nước ta đời Trần. Ông là tác giả của bộ Bách thế thông khảo
    và nhiều trước tác quan trọng khác. Khác với nhiều người thời đó,
    Trần Nguyên Đán muốn các con gái của ông cũng được học hành
    văn chương chữ nghĩa như con trai. Vì thế, khi nghe tin đồn về
    tài năng của Nguyễn Ứng Long, ông đã sai người đón về dạy cho
    con gái ông là Trần Thị Thái. Thầy đồ vừa trẻ vừa có tài, học trò
    vừa thông minh lại xinh đẹp, nên thầy trò rất tương đắc.
    7

    Chẳng bao lâu, tình yêu giữa họ nảy nở và Trần Thị Thái mang
    thai. Họ vô cùng lo lắng vì biết mình không chỉ làm trái những
    điều lễ giáo cho phép mà còn phạm vào điều cấm kỵ, bởi triều
    đình lúc đó không cho phép con cái nhà quý tộc kết hôn với con
    nhà thường dân. Trong khi đó, Trần Thị Thái lại là con nhà đại
    quý tộc, còn Nguyễn Ứng Long dẫu tài giỏi bao nhiêu cũng chỉ
    là một thầy đồ, địa vị xã hội thua kém hẳn. Sợ người yêu bị cha
    trừng phạt, Trần Thị Thái đã giúp Ứng Long tìm đường chạy trốn.
    8

    Không ngờ, khi biết chuyện, thấy
    Ứng Long là người có tài và đôi trẻ
    thương yêu nhau thực lòng, Trần
    Nguyên Đán không những không giận
    mà còn tác hợp cho hai người nên vợ
    nên chồng. Ông chỉ yêu cầu Nguyễn
    Ứng Long phải cố gắng học hành để đỗ
    đạt. Cảm động trước thái độ bao dung
    và tin cậy ấy, Nguyễn Ứng Long ngày
    đêm dùi mài kinh sử, quyết đỗ đại khoa
    để trả nghĩa cho nhạc phụ.

    9

    Quả nhiên, khoa thi Giáp Dần (1374), Nguyễn Ứng Long đỗ
    Thái học sinh. Rất tiếc là lúc bấy giờ, Thượng hoàng Trần Nghệ
    Tông cho rằng ông là con nhà thường dân mà dám cả gan lấy con
    gái nhà tôn thất nên không cho ông làm quan. Bởi lẽ này, Nguyễn
    Ứng Long bỏ về quê mình là làng Nhị Khê để mở trường dạy học.
    Học trò nghe tiếng ông theo về ngày một đông.

    10

    Kết duyên cùng Nguyễn Ứng Long, Trần Thị Thái đã sinh
    hạ tất cả năm người con trai. Nguyễn Trãi là con đầu, kế đến là
    Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn
    Phi Hùng. Khi cha về dạy học ở làng Nhị Khê, Nguyễn Trãi vẫn
    ở lại tư dinh của ông ngoại cùng mẹ và các em của mình.
    11

    Tháng bảy năm Ất Sửu (1385), Trần Nguyên Đán xin về trí
    sĩ và được triều đình nhà Trần chấp thuận. Ông dọn về ở hẳn tại
    Côn Sơn, dựng động Thanh Hư và bia đá. Vua Trần Duệ Tông
    ngự bút đề tặng ba chữ Thanh Hư động, còn Thượng hoàng Trần
    Nghệ Tông thì viết bài minh khắc vào bia.

    12

    Bấy giờ, Nguyễn Trãi cùng mẹ và các em của mình cũng theo
    ông ngoại về Côn Sơn. Tại đây, Nguyễn Trãi bắt đầu được đi học.
    Và người thầy đầu tiên của ông chính là mẹ ông, bà Trần Thị Thái.
    Nhưng tiếc là chưa được bao lâu thì mẹ ông lâm bệnh nặng qua
    đời. Ông và các em phải sống dựa vào ông ngoại.
    13

    Người thầy giáo quan trọng thứ hai của Nguyễn Trãi chính là
    ông ngoại của ông, nhà bác học, quan Đại Tư đồ Trần Nguyên
    Đán. Đến năm 1390, Trần Nguyên Đán qua đời. Bấy giờ, Nguyễn
    Trãi và các em của ông mới chuyển về ở hẳn với cha tại làng Nhị
    Khê. Lúc này, Nguyễn Ứng Long trực tiếp dạy dỗ và kèm cặp
    các con mình.

    14

    Sinh ra trong một gia đình đặc biệt như vậy, lại may mắn có
    trí thông minh bẩm sinh, Nguyễn Trãi học hành tấn tới rất nhanh.
    Khoa Canh Thìn, niên hiệu Thánh Nguyên năm thứ nhất (tức là
    năm 1400 dưới triều Hồ), Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh(*).
    * Học vị nay bắt đầu có kể từ năm 1232 và từ năm 1442 thì đổi, gọi là Tiến sĩ.

    15

    Nguyễn Trãi cùng với cha là Nguyễn Ứng Long (lúc này đã
    đổi tên là Nguyễn Phi Khanh) cùng ra làm quan cho nhà Hồ.
    Nguyễn Phi Khanh được trao chức Hàn lâm Học sĩ kiêm Quốc
    Tử Giám Tu nghiệp và được phong hàm Đại lý Tự khanh. Đó là
    những chức hàm quan trọng dành cho hàng quan văn xuất thân từ
    khoa bảng. Lần đầu tiên sau 26 năm đỗ đạt, Nguyễn Phi Khanh
    mới được trao quan chức.

    16

    Nguyễn Trãi cũng được trao chức Ngự sử đài Chánh chưởng.
    Với chức vị này, Nguyễn Trãi có nhiệm vụ can gián bá quan và
    triều đình, thậm chí can gián cả nhà vua khi xét thấy cần. Chức
    này, nếu không phải là bậc đại trí, vừa trung thực và thẳng thắn
    lại vừa khôn khéo và kiên quyết thì khó mà làm được.
    17

    Không thấy sử chép gì về quá trình làm
    quan này của Nguyễn Trãi, có lẽ vì triều
    Hồ tồn tại quá ngắn (chưa đầy 7 năm, từ
    đầu năm 1400 đến giữa năm 1407). Tuy
    nhiên, căn cứ vào câu Nguyễn Trãi viết
    trong Bình Ngô đại cáo: “Khoảnh nhân
    Hồ chính chi phiền hà...” (Nhân họ Hồ
    chính sự phiền hà), chúng ta có thể đoán
    là ông không bằng lòng với nhiều chính
    sách của nhà Hồ.

    18

    Cuối năm 1406, nhà Minh mượn danh nghĩa phù Trần diệt Hồ
    để xua quân xâm lược nước ta. Sau sáu tháng cầm cự một cách
    lúng túng và kém hiệu quả, toàn bộ lực lượng kháng chiến do nhà
    Hồ lãnh đạo đã bị tan rã. Tháng 5 năm Đinh Hợi (tức tháng 6 năm
    1407), hầu hết vua quan nhà Hồ, từ Thượng hoàng Hồ Quý Ly,
    vua Hồ Hán Thương đến tổng chỉ huy quân đội là Hồ Nguyên
    Trừng cùng đông đảo văn thần và võ tướng đều bị bắt và bị giải
    sang Trung Quốc.

    19

    Bấy giờ, thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cũng
    ở trong số đó, nhưng không rõ vì sao Nguyễn Trãi lại không bị
    chúng bắt ngay. Một số thư tịch cổ cho biết rằng được tin ấy,
    Nguyễn Trãi cùng các em bám theo xe tù, tìm cách đi theo sang
    Trung Quốc để mong được phụng dưỡng cha già.

    20

    Tới ải Nam Quan, nhân lúc lính áp giải nghỉ
    ngơi, Nguyễn Trãi cùng các em đến tận xe tù nói
    rõ ước nguyện của mình với cha. Nguyễn Phi
    Khanh nghiêm mặt nói: “Nay là lúc nước mất
    nhà tan, đạo làm tôi phải lấy việc rửa nhục cho
    nước làm trung, đạo làm con phải lấy việc trả thù
    cho cha làm hiếu, có đâu lại cứ đi theo mà khóc
    như đàn bà con gái thì mới là hiếu là trung!”.

    21

    Nhận ra những ý nghĩa rất sâu sắc hàm
    chứa trong câu nói của cha, Nguyễn Trãi
    đã quay lại. Và đó cũng là lần gặp gỡ cuối
    cùng của Nguyễn Trãi đối với người cha,
    cũng là người thầy của ông; nhưng câu nói
    của cha đã in dấu sâu đậm trong tâm hồn
    Nguyễn Trãi và có ảnh hưởng rất lớn tới
    cuộc đời của ông sau này. Từ đây, những
    ngày Nguyễn Trãi trăn trở nghĩ kế “rửa
    nhục cho nước, trả thù cho cha” bắt đầu.

    22

    Nhưng trên đường quay trở lại, Nguyễn Trãi không may bị giặc
    phát hiện và bắt đem về Đông Quan. Tướng tổng chỉ huy quân
    Minh lúc đó là Trương Phụ biết Nguyễn Trãi là một trí thức tài
    ba nên đã dùng đủ mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc, hy vọng ông
    sẽ cộng tác với chúng. Nhưng trước sau Nguyễn Trãi vẫn một
    mực chối từ.
    23

    Trương Phụ tức giận sai quân đem
    Nguyễn Trãi đi chém đầu. Nhưng ngay lúc
    ấy, quan Thượng thư của giặc là Hoàng Phúc
    liền ngăn lại. Hắn cho rằng dụ dỗ một người
    như Nguyễn Trãi thì không thể ngày một
    ngày hai được. Vì thế, Trương Phụ không
    chém Nguyễn Trãi, nhưng đem ông giam
    lỏng trong một ngôi nhà nhỏ trong thành
    Đông Quan.

    24

    Kẻ thù rất gian ngoan nhưng chúng đã lầm. Nơi bị giam lỏng
    cũng là nơi Nguyễn Trãi ngày đêm suy tính kế sách cứu nước cứu
    nhà. Ông tìm cách liên lạc với phong trào khởi nghĩa chống quân
    Minh xâm lược đang bùng nổ dữ dội ở khắp nơi. Và cuối cùng,
    ông quyết định cùng với người anh em họ là Trần Nguyên Hãn,
    bí mật trốn khỏi Đông Quan, tìm vào Lam Sơn với Lê Lợi.
    25

    Sử sách cũ không nói rõ Nguyễn Trãi đã thoát khỏi Đông Quan
    bằng cách nào và vào thời điểm cụ thể nào. Tuy nhiên, những kết
    quả nghiên cứu gần đây cho thấy, Nguyễn Trãi đã có mặt ở Lam
    Sơn trước năm 1416, tức là trước khi Lê Lợi tổ chức hội thề Lũng
    Nhai. Đến với Lê Lợi và các nghĩa sĩ Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã
    mang theo một công trình rất có giá trị, đó là cuốn Bình Ngô sách
    tổng kết tất cả những sách lược đánh giặc Ngô mà có lẽ ông đã
    suy ngẫm suốt những năm bị giam lỏng ở kinh thành.
    26

    Trải qua bao phen binh lửa, Bình Ngô sách nay không còn nữa,
    nhưng nhiều thư tịch cổ của các bậc tiền bối đã viết những lời rất
    trang trọng về tác phẩm hết sức đặc biệt này. Có thể nói, Bình Ngô
    sách đã đặt nền tảng tư tưởng cho toàn bộ quá trình hình thành,
    phát triển và thắng lợi vẻ vang của phong trào Lam Sơn. Ngay từ
    đầu, Bình Ngô sách đã góp phần định hướng rõ rệt cho Lam Sơn
    là phải từ cuộc khởi nghĩa vũ trang phát triển thành chiến tranh
    giải phóng trên quy mô cả nước.

    27

    Cuộc gặp gỡ giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi quả đúng là
    anh hùng tương ngộ. Từ đó, Lê Lợi luôn cùng Nguyễn
    Trãi bàn bạc kế sách. Đáp lại,
    Nguyễn Trãi cũng một lòng trung
    thành với Lê Lợi và sự nghiệp cứu
    nước của các nghĩa sĩ Lam Sơn.
    Trong suốt cuộc kháng chiến, những
    ý tưởng sắc sảo của Nguyễn Trãi
    luôn được sự ủng hộ của Lê Lợi và
    Bộ chỉ huy Lam Sơn nên đã đem lại
    những kết quả tốt đẹp.

    28

    Ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân
    (1416), Lê Lợi long trọng tổ chức hội
    thề Lũng Nhai. Về thực chất, đây chính
    là buổi lễ ra mắt dưới một dạng thức đặc
    biệt của Bộ chỉ huy Lam Sơn. Nguyễn
    Trãi tham dự và trở thành mưu sĩ số một
    của Lê Lợi. Từ đây, với cương vị mới mẻ
    này, Nguyễn Trãi đã dốc hết tâm lực vào
    cuộc khởi nghĩa.

    29

    Trong suốt quá trình tham gia khởi
    nghĩa, Nguyễn Trãi là người có công
    khai sinh ra một loạt những tư tưởng
    chiến lược lớn của Lam Sơn, đồng thời
    cũng là người trực tiếp chỉ huy thực
    hiện xuất sắc tất cả các tư tưởng chiến
    lược ấy. Ở một chừng mực nhất định
    nào đó, chúng ta có thể nói, Nguyễn
    Trãi chính là linh hồn của nghĩa quân
    Lam Sơn.

    30

    Vốn là người có tấm lòng nhân ái, bao dung, lại từng sống gần
    gũi trong dân chúng, Nguyễn Trãi hiểu được nỗi thống khổ của
    dân dưới ách giặc Minh. Vì vậy, ông chủ trương kết hợp chặt chẽ
    giữa nhiệm vụ cứu nước với nhiệm vụ cứu dân. Đây là điều mà
    trước ông, chưa có lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa nào nhận thức
    được. Nguyên nhân sâu sa dẫn đến thất bại của các cuộc khởi
    nghĩa chống giặc Minh trước Lam Sơn chính là ở đấy.
    31

    Nhưng mặt khác, Nguyễn Trãi lại thấy được sức mạnh to lớn
    của dân nên ông chủ trương tấn công quyết liệt vào lòng người.
    Đây là cuộc tấn công vừa nhằm tập hợp và động viên cao độ sức
    mạnh cũng như trí tuệ của toàn dân, vừa nhằm phân hóa và cô lập
    kẻ thù một cách sâu sắc. Chính nhờ đó, nghĩa quân Lam Sơn đã
    vượt qua được những ngày tháng gian khổ nhất để giành thắng lợi.

    32

    Không chỉ có những tư tưởng lớn vượt lên trên thời đại của
    mình, Nguyễn Trãi còn có những tài năng đặc biệt về quân sự.
    Ngoài việc vạch đường đi nước bước cho nghĩa quân trong Bình
    Ngô sách; khi lâm trận, ông đã chủ động, linh hoạt tấn công giặc
    đồng loạt trên nhiều mặt trận: vũ trang, binh vận, ngoại giao...
    Chính cuộc tấn công liên tục và đồng loạt này đã khiến giặc Minh
    bị động đối phó một cách lúng túng để rồi cuối cùng phải đành
    cam chịu thất bại.

    33

    Góp sức chủ yếu vào cuộc đấu tranh binh vận và ngoại giao là
    tiếng nói và ngòi bút tuyệt vời của Nguyễn Trãi, nó có sức mạnh
    chẳng kém gì “cả chục vạn quân thiện chiến”. Hàng chục thành trì
    kiên cố của giặc, kể cả sào huyệt nguy hiểm cuối cùng của chúng
    là thành Đông Quan, cũng đều hạ vũ khí đầu hàng bởi cuộc tấn
    công bằng ngòi bút và tiếng nói của ông. Có thể nói, trong lịch sử
    đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, chưa có cuộc kháng chiến nào kẻ
    thù lại nhận được nhiều thư từ với những lời lẽ ôn hòa nhưng kiên
    quyết khiến chúng luôn phải lo lắng sợ hãi như khởi nghĩa Lam Sơn.
    34

    Ngay sau ngày toàn thắng, được sự ủy thác
    của Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn, Nguyễn Trãi
    đã viết bài Bình Ngô đại cáo. Đó thực sự là một
    tuyệt tác văn học, đồng thời cũng là một văn kiện
    chính trị có ý nghĩa thiêng liêng như bản tuyên
    ngôn độc lập lần thứ hai(*) của nước nhà. Áng
    thiên cổ hùng văn này đã đưa Nguyễn Trãi vào
    hàng những tác gia kiệt xuất, góp phần làm rạng
    rỡ nền văn hiến của dân tộc ta.
    * Bài Nam quốc sơn hà tương truyền của Lý Thường Kiệt được
    coi như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất.

    35

    Nhờ liên tục có những cống hiến to lớn như thế, sau khi đánh
    đuổi được quân Minh và giải phóng đất nước, khi Lê Lợi lên ngôi
    Hoàng đế và định công ban thưởng cho bá quan văn võ, Nguyễn
    Trãi được mang quốc tính là họ Lê, tước Á hầu, chức Hành khiển,
    quyền đứng đầu ban văn. Ông là một trong số 93 người được vinh
    dự khắc tên vào biển Khai Quốc Công Thần của triều Lê.

    36

    Ngay khi vừa được dựng lên, nhà Lê đã ra sức tiến hành một
    loạt những biện pháp tích cực và tiến bộ, nhằm nhanh chóng đưa
    đất nước đi lên. Nhưng cũng từ đó, một số văn thần và võ tướng
    cậy có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến trước đây, đã không
    ngừng kiếm kế vun vén cho bản thân. Nghĩa tình những ngày đồng
    cam chịu khổ và chia ngọt xẻ bùi khi xưa, dần dần bị phai nhạt.
    37

    Sự lộng hành của bọn xu nịnh, sự giảo hoạt của bọn cơ hội và
    sự tự mãn của những người vừa được trao chức tước lớn... khiến
    cho Nguyễn Trãi vô cùng lo âu. Những cái chết oan ức của Trần
    Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo và Lưu Nhân Chú(*)... khiến cho ông
    xót xa, đau đớn. Và đúng lúc ấy, đến lượt Nguyễn Trãi cũng bị
    gièm pha, khích bác.
    * Xem tập Sáng lập triều Lê.

    38

    Rắc rối lớn đầu tiên của Nguyễn Trãi là sự kiện xảy ra vào
    tháng 5 năm Giáp Dần (1434), sau khi Lê Thái Tổ băng hà. Hôm
    ấy, triều đình quyết định cử Nguyễn Tông Trụ, Thái Quân Thực
    và Đái Lương Bật đi sứ sang Trung Quốc, dâng biểu cầu phong
    cho vua mới là Lê Nguyên Long (tức Lê Thái Tông, lúc ấy mới
    11 tuổi). Nguyễn Trãi là người được triều đình giao soạn tờ biểu
    văn này.

    39

    Bấy giờ quan giữ chức Nội mật viện
    là Nguyễn Thúc Huệ và Học sĩ là Lê
    Cảnh Xước muốn sửa vài ba chữ trong
    tờ biểu văn. Bởi ghét bọn tài hèn đức
    mỏng mà lắm lời, Nguyễn Trãi mắng:
    “Các người chỉ là hạng bề tôi hay vơ
    vét. Nạn hạn hán hiện nay đều do các
    người gây nên cả”. Nói xong, ông lặng
    lẽ bỏ đi.

    40

    Nguyễn Thúc Huệ và Lê Cảnh Xước tức tối liền đến xúc xiểm
    mọi chuyện với Đại Tư đồ Lê Sát và Đô đốc Phạm Vấn. Phạm
    Vấn tức lắm, trách Nguyễn Trãi rằng: “Thiên tai nào phải do bọn
    ấy gây ra, lỗi là ở vua và Tể tướng. Sao ông nỡ nói nặng lời thế?”.
    Nguyễn Trãi buộc phải nói toàn bộ sự thật về sự tham lam của
    hai tên này.
    41

    Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 3 năm Ất Mão (1435). Bấy
    giờ có 7 tên trộm tái phạm tội, nhưng tất cả đều còn rất trẻ tuổi.
    Triều đình bàn là nên xử chém. Quan Đại Tư đồ Lê Sát bèn tâu
    vua. Vua chưa biết giải quyết ra sao nên hỏi ý Nguyễn Trãi. Biết
    vua còn nhỏ tuổi, muốn nhân việc này khuyên vua tránh xa những
    điều bạo ngược đang là mầm mống gây mọi xáo trộn trong nước,
    ông nói: “Đấng minh quân xử việc bao giờ cũng bắt đầu và kết
    thúc ở chí nhân và đại nghĩa”.
    42

    Nghe lời ấy của Nguyễn Trãi, Lê Sát vốn từng bỏ thuốc độc
    giết người không cùng phe cánh(*) nên chạnh lòng, bảo: “Ông có
    nhân nghĩa ắt có thể cảm hóa được kẻ ác thành người thiện. Vậy
    xin giao chúng cho ông và phiền ông cảm hóa cho”. Nguyễn Trãi
    biết ý từ chối: “Chúng đều là hạng trẻ con rất ranh mãnh. Pháp
    luật của triều đình còn không trị được, huống hồ bọn đức mỏng
    như chúng tôi cảm hóa thế nào”. Sau, triều đình quyết định chém
    hai tên, còn thì bắt đi đày. Nhưng từ đó Lê Sát đối với Nguyễn
    Trãi không còn như trước.
    * Xem tập Sáng lập triều Lê.

    43

    Ít lâu sau, triều đình đề cử
    Nguyễn Trãi và Trình Thuấn
    Du cùng với vài ba đại thần
    nữa, lo việc thay phiên vào hầu
    vua giảng học. Vua không chấp
    thuận, chỉ lo vui chơi cho thỏa
    thích. Sử cũ chép rằng có người
    tiến dâng cho vua một con hươu
    rừng. Vua liền cho voi đánh nhau
    với con hươu ấy. Con hươu bị tấn
    công thì vùng lên, húc bừa vào
    voi khiến cho voi sợ phải lùi về
    sau, chẳng may bị sa xuống giếng
    mà chết. Các quan khuyên can
    mãi mà vua vẫn chứng nào tật ấy.

    44

    Sự hoang chơi của nhà vua nhỏ tuổi đã tạo cơ hội cho bọn tham
    quan ô lại mặc sức tìm cách đục khoét dân lành. Những dấu hiệu
    của sự tha hóa ấy đã khiến cho Nguyễn Trãi càng ngày càng chán
    nản. Ông cảm thấy mình xa lạ giữa những người thân thiết cũ và
    thực sự lo lắng cho cơ đồ của nhà Lê.

    45

    Giữa lúc đó, vào năm 1437, lại có một việc xảy ra. Bấy giờ
    Nguyễn Trãi được lệnh cùng với viên hoạn quan lo việc soạn nhã
    nhạc cho triều đình. Sau khi vẽ xong mẫu của chiếc khánh đá,
    Nguyễn Trãi dâng sớ tâu vua, đại ý nói rằng: Thái bình là gốc của
    nhạc, nếu bệ hạ thương dân thì đó đã là xây gốc vững cho nhạc.

    46

    Thái giám Lương Đăng cũng dâng lời tâu lên vua, nhưng lời lẽ
    của y xun xoe nịnh bợ, trái ngược hẳn với lời tâu của Nguyễn Trãi.
    Rất tiếc là nhà vua trẻ tuổi chưa đủ sức để thẩm định đúng sai,
    hay dở nên đã ưng theo lời tâu của Lương Đăng, bất chấp những
    lời khuyên can của rất đông quan lại đương thời.

    47

    Từ khoảng năm 1439 trở đi, khi Lê Thái Tông đã đến tuổi
    trưởng thành, bắt đầu có khả năng điều hành công việc của triều
    đình và có ý thức chỉnh đốn kỉ cương phép nước, Nguyễn Trãi
    mới được sống những ngày tương đối thảnh thơi. Ông được phép
    về ở tại Côn Sơn, điều hành quân dân hai đạo Đông Bắc, chỉ thỉnh
    thoảng mới về triều bàn việc.

    48
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML