LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3
CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lịch sử Việt Nam t37

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:26' 09-03-2024
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:26' 09-03-2024
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ 4
Hình vẽ do phòng “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nguyễn Trãi / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa sĩ Nguyễn
Huy. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
100 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.37).
1. Nguyễn Trãi, 1380-1442 — Tiểu sử. 2. Danh nhân — Việt Nam — Sách tranh. 3.
Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà hậu Lê, 1427-1527 — Sách tranh. 4. Việt Nam — Vua và
quần thần — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt
Nam bằng tranh.
1. Nguyễn Trãi, 1380-1442 — Biography. 2. Celebrities —Vietnam — Pictorial works. 3.
Vietnam — History — Later Le dynasty, 1427-1527 — Pictorial works. 4. Vietnam -- Kings
and rulers — Pictorial works.
959.7026 — dc 22
N573
LỜI GIỚI THIỆU
Sinh ra trong buổi đất nước nguy biến, giặc Minh xâm lược, tài
năng cùng sự mẫn cảm với thời thế đã đưa Nguyễn Trãi đến với
nghĩa quân Lam Sơn, góp công lớn đưa sự nghiệp giải phóng dân
tộc đến thắng lợi hoàn toàn.
Đất nước hòa bình, Nguyễn Trãi hăm hở với hoài bão xây dựng,
tái thiết đất nước sau những ngày dài bị tàn phá nhưng những người
kề vai sát cánh ngày xưa ấy giờ lại là rào cản cho sự đi lên của
nước nhà. Cám cảnh quan trường, ông lui về ở ẩn, lánh đi thế sự
chán chường.
Ngỡ rằng bậc danh nhân hiếm có ấy sẽ có thể vui thú điền viên
nhưng có ai ngờ rằng người ấy lại phải chịu những oan khiên thảm
khốc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta. Nguyễn Trãi bị kéo vào
vụ án Lệ Chi viên, bị gian thần vu tội sát vua, phải chịu án tru di
tam tộc.
Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi,
tìm con cháu, sưu tầm lại thơ văn của ông và khẳng định nhân cách,
tấm lòng, tâm hồn lớn của Nguyễn Trãi với câu nói nổi tiếng “Ức
Trai tâm thượng quang khuê tảo”.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 37 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Nguyễn Trãi” phần lời do Nguyễn Khắc
Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 37 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyễn Trãi (1380-1442) là người anh hùng dân tộc,
bậc danh nhân văn hóa lớn trong lịch sử nước ta. Nhưng
ông cũng là người phải chịu những oan khiên thảm khốc
nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta bởi những
mưu đồ chính trị lúc bấy giờ.
Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan,
tìm kiếm con cháu và cho sưu tầm lại thơ văn của ông.
Năm 1980, UNESCO công nhận ông là Danh nhân văn
hóa thế giới và đã đưa tên tuổi ông đến với nhiều học giả
trên thế giới.
Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, chào đời năm Canh Thân (1380)
tại kinh thành Thăng Long. Cha ông là Nguyễn Ứng Long người
làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (nay thuộc huyện Chí Linh,
tỉnh Hải Dương), sau dời về làng Nhị Khê (tức làng Ngọc Ổi cũ),
huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã
Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín,
Hà Nội). Thời trai trẻ, Nguyễn
Ứng Long nổi tiếng là hay chữ
nhưng vì nhà nghèo nên phải đi
làm gia sư.
5
Mẹ của Nguyễn Trãi là Trần Thị Thái, con gái yêu của quan
Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán (1326-1390), thuộc dòng dõi của
Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Nhờ có công phò giúp Trần
Nghệ Tông đánh kẻ tiếm ngôi là Nhật Lễ nên Trần Nguyên Đán
được phong làm Tể tướng. Ông làm quan trải bốn đời vua là Trần
Dụ Tông (1341-1369), Trần Nghệ Tông (1370-1372), Trần Duệ
Tông (1372-1377) và Trần Phế Đế (1377-1388).
6
Trần Nguyên Đán còn là nhà thiên văn và lịch pháp nổi tiếng
của nước ta đời Trần. Ông là tác giả của bộ Bách thế thông khảo
và nhiều trước tác quan trọng khác. Khác với nhiều người thời đó,
Trần Nguyên Đán muốn các con gái của ông cũng được học hành
văn chương chữ nghĩa như con trai. Vì thế, khi nghe tin đồn về
tài năng của Nguyễn Ứng Long, ông đã sai người đón về dạy cho
con gái ông là Trần Thị Thái. Thầy đồ vừa trẻ vừa có tài, học trò
vừa thông minh lại xinh đẹp, nên thầy trò rất tương đắc.
7
Chẳng bao lâu, tình yêu giữa họ nảy nở và Trần Thị Thái mang
thai. Họ vô cùng lo lắng vì biết mình không chỉ làm trái những
điều lễ giáo cho phép mà còn phạm vào điều cấm kỵ, bởi triều
đình lúc đó không cho phép con cái nhà quý tộc kết hôn với con
nhà thường dân. Trong khi đó, Trần Thị Thái lại là con nhà đại
quý tộc, còn Nguyễn Ứng Long dẫu tài giỏi bao nhiêu cũng chỉ
là một thầy đồ, địa vị xã hội thua kém hẳn. Sợ người yêu bị cha
trừng phạt, Trần Thị Thái đã giúp Ứng Long tìm đường chạy trốn.
8
Không ngờ, khi biết chuyện, thấy
Ứng Long là người có tài và đôi trẻ
thương yêu nhau thực lòng, Trần
Nguyên Đán không những không giận
mà còn tác hợp cho hai người nên vợ
nên chồng. Ông chỉ yêu cầu Nguyễn
Ứng Long phải cố gắng học hành để đỗ
đạt. Cảm động trước thái độ bao dung
và tin cậy ấy, Nguyễn Ứng Long ngày
đêm dùi mài kinh sử, quyết đỗ đại khoa
để trả nghĩa cho nhạc phụ.
9
Quả nhiên, khoa thi Giáp Dần (1374), Nguyễn Ứng Long đỗ
Thái học sinh. Rất tiếc là lúc bấy giờ, Thượng hoàng Trần Nghệ
Tông cho rằng ông là con nhà thường dân mà dám cả gan lấy con
gái nhà tôn thất nên không cho ông làm quan. Bởi lẽ này, Nguyễn
Ứng Long bỏ về quê mình là làng Nhị Khê để mở trường dạy học.
Học trò nghe tiếng ông theo về ngày một đông.
10
Kết duyên cùng Nguyễn Ứng Long, Trần Thị Thái đã sinh
hạ tất cả năm người con trai. Nguyễn Trãi là con đầu, kế đến là
Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn
Phi Hùng. Khi cha về dạy học ở làng Nhị Khê, Nguyễn Trãi vẫn
ở lại tư dinh của ông ngoại cùng mẹ và các em của mình.
11
Tháng bảy năm Ất Sửu (1385), Trần Nguyên Đán xin về trí
sĩ và được triều đình nhà Trần chấp thuận. Ông dọn về ở hẳn tại
Côn Sơn, dựng động Thanh Hư và bia đá. Vua Trần Duệ Tông
ngự bút đề tặng ba chữ Thanh Hư động, còn Thượng hoàng Trần
Nghệ Tông thì viết bài minh khắc vào bia.
12
Bấy giờ, Nguyễn Trãi cùng mẹ và các em của mình cũng theo
ông ngoại về Côn Sơn. Tại đây, Nguyễn Trãi bắt đầu được đi học.
Và người thầy đầu tiên của ông chính là mẹ ông, bà Trần Thị Thái.
Nhưng tiếc là chưa được bao lâu thì mẹ ông lâm bệnh nặng qua
đời. Ông và các em phải sống dựa vào ông ngoại.
13
Người thầy giáo quan trọng thứ hai của Nguyễn Trãi chính là
ông ngoại của ông, nhà bác học, quan Đại Tư đồ Trần Nguyên
Đán. Đến năm 1390, Trần Nguyên Đán qua đời. Bấy giờ, Nguyễn
Trãi và các em của ông mới chuyển về ở hẳn với cha tại làng Nhị
Khê. Lúc này, Nguyễn Ứng Long trực tiếp dạy dỗ và kèm cặp
các con mình.
14
Sinh ra trong một gia đình đặc biệt như vậy, lại may mắn có
trí thông minh bẩm sinh, Nguyễn Trãi học hành tấn tới rất nhanh.
Khoa Canh Thìn, niên hiệu Thánh Nguyên năm thứ nhất (tức là
năm 1400 dưới triều Hồ), Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh(*).
* Học vị nay bắt đầu có kể từ năm 1232 và từ năm 1442 thì đổi, gọi là Tiến sĩ.
15
Nguyễn Trãi cùng với cha là Nguyễn Ứng Long (lúc này đã
đổi tên là Nguyễn Phi Khanh) cùng ra làm quan cho nhà Hồ.
Nguyễn Phi Khanh được trao chức Hàn lâm Học sĩ kiêm Quốc
Tử Giám Tu nghiệp và được phong hàm Đại lý Tự khanh. Đó là
những chức hàm quan trọng dành cho hàng quan văn xuất thân từ
khoa bảng. Lần đầu tiên sau 26 năm đỗ đạt, Nguyễn Phi Khanh
mới được trao quan chức.
16
Nguyễn Trãi cũng được trao chức Ngự sử đài Chánh chưởng.
Với chức vị này, Nguyễn Trãi có nhiệm vụ can gián bá quan và
triều đình, thậm chí can gián cả nhà vua khi xét thấy cần. Chức
này, nếu không phải là bậc đại trí, vừa trung thực và thẳng thắn
lại vừa khôn khéo và kiên quyết thì khó mà làm được.
17
Không thấy sử chép gì về quá trình làm
quan này của Nguyễn Trãi, có lẽ vì triều
Hồ tồn tại quá ngắn (chưa đầy 7 năm, từ
đầu năm 1400 đến giữa năm 1407). Tuy
nhiên, căn cứ vào câu Nguyễn Trãi viết
trong Bình Ngô đại cáo: “Khoảnh nhân
Hồ chính chi phiền hà...” (Nhân họ Hồ
chính sự phiền hà), chúng ta có thể đoán
là ông không bằng lòng với nhiều chính
sách của nhà Hồ.
18
Cuối năm 1406, nhà Minh mượn danh nghĩa phù Trần diệt Hồ
để xua quân xâm lược nước ta. Sau sáu tháng cầm cự một cách
lúng túng và kém hiệu quả, toàn bộ lực lượng kháng chiến do nhà
Hồ lãnh đạo đã bị tan rã. Tháng 5 năm Đinh Hợi (tức tháng 6 năm
1407), hầu hết vua quan nhà Hồ, từ Thượng hoàng Hồ Quý Ly,
vua Hồ Hán Thương đến tổng chỉ huy quân đội là Hồ Nguyên
Trừng cùng đông đảo văn thần và võ tướng đều bị bắt và bị giải
sang Trung Quốc.
19
Bấy giờ, thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cũng
ở trong số đó, nhưng không rõ vì sao Nguyễn Trãi lại không bị
chúng bắt ngay. Một số thư tịch cổ cho biết rằng được tin ấy,
Nguyễn Trãi cùng các em bám theo xe tù, tìm cách đi theo sang
Trung Quốc để mong được phụng dưỡng cha già.
20
Tới ải Nam Quan, nhân lúc lính áp giải nghỉ
ngơi, Nguyễn Trãi cùng các em đến tận xe tù nói
rõ ước nguyện của mình với cha. Nguyễn Phi
Khanh nghiêm mặt nói: “Nay là lúc nước mất
nhà tan, đạo làm tôi phải lấy việc rửa nhục cho
nước làm trung, đạo làm con phải lấy việc trả thù
cho cha làm hiếu, có đâu lại cứ đi theo mà khóc
như đàn bà con gái thì mới là hiếu là trung!”.
21
Nhận ra những ý nghĩa rất sâu sắc hàm
chứa trong câu nói của cha, Nguyễn Trãi
đã quay lại. Và đó cũng là lần gặp gỡ cuối
cùng của Nguyễn Trãi đối với người cha,
cũng là người thầy của ông; nhưng câu nói
của cha đã in dấu sâu đậm trong tâm hồn
Nguyễn Trãi và có ảnh hưởng rất lớn tới
cuộc đời của ông sau này. Từ đây, những
ngày Nguyễn Trãi trăn trở nghĩ kế “rửa
nhục cho nước, trả thù cho cha” bắt đầu.
22
Nhưng trên đường quay trở lại, Nguyễn Trãi không may bị giặc
phát hiện và bắt đem về Đông Quan. Tướng tổng chỉ huy quân
Minh lúc đó là Trương Phụ biết Nguyễn Trãi là một trí thức tài
ba nên đã dùng đủ mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc, hy vọng ông
sẽ cộng tác với chúng. Nhưng trước sau Nguyễn Trãi vẫn một
mực chối từ.
23
Trương Phụ tức giận sai quân đem
Nguyễn Trãi đi chém đầu. Nhưng ngay lúc
ấy, quan Thượng thư của giặc là Hoàng Phúc
liền ngăn lại. Hắn cho rằng dụ dỗ một người
như Nguyễn Trãi thì không thể ngày một
ngày hai được. Vì thế, Trương Phụ không
chém Nguyễn Trãi, nhưng đem ông giam
lỏng trong một ngôi nhà nhỏ trong thành
Đông Quan.
24
Kẻ thù rất gian ngoan nhưng chúng đã lầm. Nơi bị giam lỏng
cũng là nơi Nguyễn Trãi ngày đêm suy tính kế sách cứu nước cứu
nhà. Ông tìm cách liên lạc với phong trào khởi nghĩa chống quân
Minh xâm lược đang bùng nổ dữ dội ở khắp nơi. Và cuối cùng,
ông quyết định cùng với người anh em họ là Trần Nguyên Hãn,
bí mật trốn khỏi Đông Quan, tìm vào Lam Sơn với Lê Lợi.
25
Sử sách cũ không nói rõ Nguyễn Trãi đã thoát khỏi Đông Quan
bằng cách nào và vào thời điểm cụ thể nào. Tuy nhiên, những kết
quả nghiên cứu gần đây cho thấy, Nguyễn Trãi đã có mặt ở Lam
Sơn trước năm 1416, tức là trước khi Lê Lợi tổ chức hội thề Lũng
Nhai. Đến với Lê Lợi và các nghĩa sĩ Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã
mang theo một công trình rất có giá trị, đó là cuốn Bình Ngô sách
tổng kết tất cả những sách lược đánh giặc Ngô mà có lẽ ông đã
suy ngẫm suốt những năm bị giam lỏng ở kinh thành.
26
Trải qua bao phen binh lửa, Bình Ngô sách nay không còn nữa,
nhưng nhiều thư tịch cổ của các bậc tiền bối đã viết những lời rất
trang trọng về tác phẩm hết sức đặc biệt này. Có thể nói, Bình Ngô
sách đã đặt nền tảng tư tưởng cho toàn bộ quá trình hình thành,
phát triển và thắng lợi vẻ vang của phong trào Lam Sơn. Ngay từ
đầu, Bình Ngô sách đã góp phần định hướng rõ rệt cho Lam Sơn
là phải từ cuộc khởi nghĩa vũ trang phát triển thành chiến tranh
giải phóng trên quy mô cả nước.
27
Cuộc gặp gỡ giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi quả đúng là
anh hùng tương ngộ. Từ đó, Lê Lợi luôn cùng Nguyễn
Trãi bàn bạc kế sách. Đáp lại,
Nguyễn Trãi cũng một lòng trung
thành với Lê Lợi và sự nghiệp cứu
nước của các nghĩa sĩ Lam Sơn.
Trong suốt cuộc kháng chiến, những
ý tưởng sắc sảo của Nguyễn Trãi
luôn được sự ủng hộ của Lê Lợi và
Bộ chỉ huy Lam Sơn nên đã đem lại
những kết quả tốt đẹp.
28
Ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân
(1416), Lê Lợi long trọng tổ chức hội
thề Lũng Nhai. Về thực chất, đây chính
là buổi lễ ra mắt dưới một dạng thức đặc
biệt của Bộ chỉ huy Lam Sơn. Nguyễn
Trãi tham dự và trở thành mưu sĩ số một
của Lê Lợi. Từ đây, với cương vị mới mẻ
này, Nguyễn Trãi đã dốc hết tâm lực vào
cuộc khởi nghĩa.
29
Trong suốt quá trình tham gia khởi
nghĩa, Nguyễn Trãi là người có công
khai sinh ra một loạt những tư tưởng
chiến lược lớn của Lam Sơn, đồng thời
cũng là người trực tiếp chỉ huy thực
hiện xuất sắc tất cả các tư tưởng chiến
lược ấy. Ở một chừng mực nhất định
nào đó, chúng ta có thể nói, Nguyễn
Trãi chính là linh hồn của nghĩa quân
Lam Sơn.
30
Vốn là người có tấm lòng nhân ái, bao dung, lại từng sống gần
gũi trong dân chúng, Nguyễn Trãi hiểu được nỗi thống khổ của
dân dưới ách giặc Minh. Vì vậy, ông chủ trương kết hợp chặt chẽ
giữa nhiệm vụ cứu nước với nhiệm vụ cứu dân. Đây là điều mà
trước ông, chưa có lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa nào nhận thức
được. Nguyên nhân sâu sa dẫn đến thất bại của các cuộc khởi
nghĩa chống giặc Minh trước Lam Sơn chính là ở đấy.
31
Nhưng mặt khác, Nguyễn Trãi lại thấy được sức mạnh to lớn
của dân nên ông chủ trương tấn công quyết liệt vào lòng người.
Đây là cuộc tấn công vừa nhằm tập hợp và động viên cao độ sức
mạnh cũng như trí tuệ của toàn dân, vừa nhằm phân hóa và cô lập
kẻ thù một cách sâu sắc. Chính nhờ đó, nghĩa quân Lam Sơn đã
vượt qua được những ngày tháng gian khổ nhất để giành thắng lợi.
32
Không chỉ có những tư tưởng lớn vượt lên trên thời đại của
mình, Nguyễn Trãi còn có những tài năng đặc biệt về quân sự.
Ngoài việc vạch đường đi nước bước cho nghĩa quân trong Bình
Ngô sách; khi lâm trận, ông đã chủ động, linh hoạt tấn công giặc
đồng loạt trên nhiều mặt trận: vũ trang, binh vận, ngoại giao...
Chính cuộc tấn công liên tục và đồng loạt này đã khiến giặc Minh
bị động đối phó một cách lúng túng để rồi cuối cùng phải đành
cam chịu thất bại.
33
Góp sức chủ yếu vào cuộc đấu tranh binh vận và ngoại giao là
tiếng nói và ngòi bút tuyệt vời của Nguyễn Trãi, nó có sức mạnh
chẳng kém gì “cả chục vạn quân thiện chiến”. Hàng chục thành trì
kiên cố của giặc, kể cả sào huyệt nguy hiểm cuối cùng của chúng
là thành Đông Quan, cũng đều hạ vũ khí đầu hàng bởi cuộc tấn
công bằng ngòi bút và tiếng nói của ông. Có thể nói, trong lịch sử
đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, chưa có cuộc kháng chiến nào kẻ
thù lại nhận được nhiều thư từ với những lời lẽ ôn hòa nhưng kiên
quyết khiến chúng luôn phải lo lắng sợ hãi như khởi nghĩa Lam Sơn.
34
Ngay sau ngày toàn thắng, được sự ủy thác
của Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn, Nguyễn Trãi
đã viết bài Bình Ngô đại cáo. Đó thực sự là một
tuyệt tác văn học, đồng thời cũng là một văn kiện
chính trị có ý nghĩa thiêng liêng như bản tuyên
ngôn độc lập lần thứ hai(*) của nước nhà. Áng
thiên cổ hùng văn này đã đưa Nguyễn Trãi vào
hàng những tác gia kiệt xuất, góp phần làm rạng
rỡ nền văn hiến của dân tộc ta.
* Bài Nam quốc sơn hà tương truyền của Lý Thường Kiệt được
coi như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất.
35
Nhờ liên tục có những cống hiến to lớn như thế, sau khi đánh
đuổi được quân Minh và giải phóng đất nước, khi Lê Lợi lên ngôi
Hoàng đế và định công ban thưởng cho bá quan văn võ, Nguyễn
Trãi được mang quốc tính là họ Lê, tước Á hầu, chức Hành khiển,
quyền đứng đầu ban văn. Ông là một trong số 93 người được vinh
dự khắc tên vào biển Khai Quốc Công Thần của triều Lê.
36
Ngay khi vừa được dựng lên, nhà Lê đã ra sức tiến hành một
loạt những biện pháp tích cực và tiến bộ, nhằm nhanh chóng đưa
đất nước đi lên. Nhưng cũng từ đó, một số văn thần và võ tướng
cậy có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến trước đây, đã không
ngừng kiếm kế vun vén cho bản thân. Nghĩa tình những ngày đồng
cam chịu khổ và chia ngọt xẻ bùi khi xưa, dần dần bị phai nhạt.
37
Sự lộng hành của bọn xu nịnh, sự giảo hoạt của bọn cơ hội và
sự tự mãn của những người vừa được trao chức tước lớn... khiến
cho Nguyễn Trãi vô cùng lo âu. Những cái chết oan ức của Trần
Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo và Lưu Nhân Chú(*)... khiến cho ông
xót xa, đau đớn. Và đúng lúc ấy, đến lượt Nguyễn Trãi cũng bị
gièm pha, khích bác.
* Xem tập Sáng lập triều Lê.
38
Rắc rối lớn đầu tiên của Nguyễn Trãi là sự kiện xảy ra vào
tháng 5 năm Giáp Dần (1434), sau khi Lê Thái Tổ băng hà. Hôm
ấy, triều đình quyết định cử Nguyễn Tông Trụ, Thái Quân Thực
và Đái Lương Bật đi sứ sang Trung Quốc, dâng biểu cầu phong
cho vua mới là Lê Nguyên Long (tức Lê Thái Tông, lúc ấy mới
11 tuổi). Nguyễn Trãi là người được triều đình giao soạn tờ biểu
văn này.
39
Bấy giờ quan giữ chức Nội mật viện
là Nguyễn Thúc Huệ và Học sĩ là Lê
Cảnh Xước muốn sửa vài ba chữ trong
tờ biểu văn. Bởi ghét bọn tài hèn đức
mỏng mà lắm lời, Nguyễn Trãi mắng:
“Các người chỉ là hạng bề tôi hay vơ
vét. Nạn hạn hán hiện nay đều do các
người gây nên cả”. Nói xong, ông lặng
lẽ bỏ đi.
40
Nguyễn Thúc Huệ và Lê Cảnh Xước tức tối liền đến xúc xiểm
mọi chuyện với Đại Tư đồ Lê Sát và Đô đốc Phạm Vấn. Phạm
Vấn tức lắm, trách Nguyễn Trãi rằng: “Thiên tai nào phải do bọn
ấy gây ra, lỗi là ở vua và Tể tướng. Sao ông nỡ nói nặng lời thế?”.
Nguyễn Trãi buộc phải nói toàn bộ sự thật về sự tham lam của
hai tên này.
41
Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 3 năm Ất Mão (1435). Bấy
giờ có 7 tên trộm tái phạm tội, nhưng tất cả đều còn rất trẻ tuổi.
Triều đình bàn là nên xử chém. Quan Đại Tư đồ Lê Sát bèn tâu
vua. Vua chưa biết giải quyết ra sao nên hỏi ý Nguyễn Trãi. Biết
vua còn nhỏ tuổi, muốn nhân việc này khuyên vua tránh xa những
điều bạo ngược đang là mầm mống gây mọi xáo trộn trong nước,
ông nói: “Đấng minh quân xử việc bao giờ cũng bắt đầu và kết
thúc ở chí nhân và đại nghĩa”.
42
Nghe lời ấy của Nguyễn Trãi, Lê Sát vốn từng bỏ thuốc độc
giết người không cùng phe cánh(*) nên chạnh lòng, bảo: “Ông có
nhân nghĩa ắt có thể cảm hóa được kẻ ác thành người thiện. Vậy
xin giao chúng cho ông và phiền ông cảm hóa cho”. Nguyễn Trãi
biết ý từ chối: “Chúng đều là hạng trẻ con rất ranh mãnh. Pháp
luật của triều đình còn không trị được, huống hồ bọn đức mỏng
như chúng tôi cảm hóa thế nào”. Sau, triều đình quyết định chém
hai tên, còn thì bắt đi đày. Nhưng từ đó Lê Sát đối với Nguyễn
Trãi không còn như trước.
* Xem tập Sáng lập triều Lê.
43
Ít lâu sau, triều đình đề cử
Nguyễn Trãi và Trình Thuấn
Du cùng với vài ba đại thần
nữa, lo việc thay phiên vào hầu
vua giảng học. Vua không chấp
thuận, chỉ lo vui chơi cho thỏa
thích. Sử cũ chép rằng có người
tiến dâng cho vua một con hươu
rừng. Vua liền cho voi đánh nhau
với con hươu ấy. Con hươu bị tấn
công thì vùng lên, húc bừa vào
voi khiến cho voi sợ phải lùi về
sau, chẳng may bị sa xuống giếng
mà chết. Các quan khuyên can
mãi mà vua vẫn chứng nào tật ấy.
44
Sự hoang chơi của nhà vua nhỏ tuổi đã tạo cơ hội cho bọn tham
quan ô lại mặc sức tìm cách đục khoét dân lành. Những dấu hiệu
của sự tha hóa ấy đã khiến cho Nguyễn Trãi càng ngày càng chán
nản. Ông cảm thấy mình xa lạ giữa những người thân thiết cũ và
thực sự lo lắng cho cơ đồ của nhà Lê.
45
Giữa lúc đó, vào năm 1437, lại có một việc xảy ra. Bấy giờ
Nguyễn Trãi được lệnh cùng với viên hoạn quan lo việc soạn nhã
nhạc cho triều đình. Sau khi vẽ xong mẫu của chiếc khánh đá,
Nguyễn Trãi dâng sớ tâu vua, đại ý nói rằng: Thái bình là gốc của
nhạc, nếu bệ hạ thương dân thì đó đã là xây gốc vững cho nhạc.
46
Thái giám Lương Đăng cũng dâng lời tâu lên vua, nhưng lời lẽ
của y xun xoe nịnh bợ, trái ngược hẳn với lời tâu của Nguyễn Trãi.
Rất tiếc là nhà vua trẻ tuổi chưa đủ sức để thẩm định đúng sai,
hay dở nên đã ưng theo lời tâu của Lương Đăng, bất chấp những
lời khuyên can của rất đông quan lại đương thời.
47
Từ khoảng năm 1439 trở đi, khi Lê Thái Tông đã đến tuổi
trưởng thành, bắt đầu có khả năng điều hành công việc của triều
đình và có ý thức chỉnh đốn kỉ cương phép nước, Nguyễn Trãi
mới được sống những ngày tương đối thảnh thơi. Ông được phép
về ở tại Côn Sơn, điều hành quân dân hai đạo Đông Bắc, chỉ thỉnh
thoảng mới về triều bàn việc.
48
Hình vẽ do phòng “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nguyễn Trãi / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Nguyễn Khắc Thuần biên soạn ; họa sĩ Nguyễn
Huy. - Tái bản lần thứ 4. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
100 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.37).
1. Nguyễn Trãi, 1380-1442 — Tiểu sử. 2. Danh nhân — Việt Nam — Sách tranh. 3.
Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà hậu Lê, 1427-1527 — Sách tranh. 4. Việt Nam — Vua và
quần thần — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Nguyễn Khắc Thuần. III. Ts: Lịch sử Việt
Nam bằng tranh.
1. Nguyễn Trãi, 1380-1442 — Biography. 2. Celebrities —Vietnam — Pictorial works. 3.
Vietnam — History — Later Le dynasty, 1427-1527 — Pictorial works. 4. Vietnam -- Kings
and rulers — Pictorial works.
959.7026 — dc 22
N573
LỜI GIỚI THIỆU
Sinh ra trong buổi đất nước nguy biến, giặc Minh xâm lược, tài
năng cùng sự mẫn cảm với thời thế đã đưa Nguyễn Trãi đến với
nghĩa quân Lam Sơn, góp công lớn đưa sự nghiệp giải phóng dân
tộc đến thắng lợi hoàn toàn.
Đất nước hòa bình, Nguyễn Trãi hăm hở với hoài bão xây dựng,
tái thiết đất nước sau những ngày dài bị tàn phá nhưng những người
kề vai sát cánh ngày xưa ấy giờ lại là rào cản cho sự đi lên của
nước nhà. Cám cảnh quan trường, ông lui về ở ẩn, lánh đi thế sự
chán chường.
Ngỡ rằng bậc danh nhân hiếm có ấy sẽ có thể vui thú điền viên
nhưng có ai ngờ rằng người ấy lại phải chịu những oan khiên thảm
khốc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta. Nguyễn Trãi bị kéo vào
vụ án Lệ Chi viên, bị gian thần vu tội sát vua, phải chịu án tru di
tam tộc.
Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi,
tìm con cháu, sưu tầm lại thơ văn của ông và khẳng định nhân cách,
tấm lòng, tâm hồn lớn của Nguyễn Trãi với câu nói nổi tiếng “Ức
Trai tâm thượng quang khuê tảo”.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 37 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Nguyễn Trãi” phần lời do Nguyễn Khắc
Thuần biên soạn, phần hình ảnh do Nguyễn Huy Khôi thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 37 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Nguyễn Trãi (1380-1442) là người anh hùng dân tộc,
bậc danh nhân văn hóa lớn trong lịch sử nước ta. Nhưng
ông cũng là người phải chịu những oan khiên thảm khốc
nhất trong lịch sử chế độ phong kiến nước ta bởi những
mưu đồ chính trị lúc bấy giờ.
Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan,
tìm kiếm con cháu và cho sưu tầm lại thơ văn của ông.
Năm 1980, UNESCO công nhận ông là Danh nhân văn
hóa thế giới và đã đưa tên tuổi ông đến với nhiều học giả
trên thế giới.
Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, chào đời năm Canh Thân (1380)
tại kinh thành Thăng Long. Cha ông là Nguyễn Ứng Long người
làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (nay thuộc huyện Chí Linh,
tỉnh Hải Dương), sau dời về làng Nhị Khê (tức làng Ngọc Ổi cũ),
huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã
Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín,
Hà Nội). Thời trai trẻ, Nguyễn
Ứng Long nổi tiếng là hay chữ
nhưng vì nhà nghèo nên phải đi
làm gia sư.
5
Mẹ của Nguyễn Trãi là Trần Thị Thái, con gái yêu của quan
Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán (1326-1390), thuộc dòng dõi của
Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Nhờ có công phò giúp Trần
Nghệ Tông đánh kẻ tiếm ngôi là Nhật Lễ nên Trần Nguyên Đán
được phong làm Tể tướng. Ông làm quan trải bốn đời vua là Trần
Dụ Tông (1341-1369), Trần Nghệ Tông (1370-1372), Trần Duệ
Tông (1372-1377) và Trần Phế Đế (1377-1388).
6
Trần Nguyên Đán còn là nhà thiên văn và lịch pháp nổi tiếng
của nước ta đời Trần. Ông là tác giả của bộ Bách thế thông khảo
và nhiều trước tác quan trọng khác. Khác với nhiều người thời đó,
Trần Nguyên Đán muốn các con gái của ông cũng được học hành
văn chương chữ nghĩa như con trai. Vì thế, khi nghe tin đồn về
tài năng của Nguyễn Ứng Long, ông đã sai người đón về dạy cho
con gái ông là Trần Thị Thái. Thầy đồ vừa trẻ vừa có tài, học trò
vừa thông minh lại xinh đẹp, nên thầy trò rất tương đắc.
7
Chẳng bao lâu, tình yêu giữa họ nảy nở và Trần Thị Thái mang
thai. Họ vô cùng lo lắng vì biết mình không chỉ làm trái những
điều lễ giáo cho phép mà còn phạm vào điều cấm kỵ, bởi triều
đình lúc đó không cho phép con cái nhà quý tộc kết hôn với con
nhà thường dân. Trong khi đó, Trần Thị Thái lại là con nhà đại
quý tộc, còn Nguyễn Ứng Long dẫu tài giỏi bao nhiêu cũng chỉ
là một thầy đồ, địa vị xã hội thua kém hẳn. Sợ người yêu bị cha
trừng phạt, Trần Thị Thái đã giúp Ứng Long tìm đường chạy trốn.
8
Không ngờ, khi biết chuyện, thấy
Ứng Long là người có tài và đôi trẻ
thương yêu nhau thực lòng, Trần
Nguyên Đán không những không giận
mà còn tác hợp cho hai người nên vợ
nên chồng. Ông chỉ yêu cầu Nguyễn
Ứng Long phải cố gắng học hành để đỗ
đạt. Cảm động trước thái độ bao dung
và tin cậy ấy, Nguyễn Ứng Long ngày
đêm dùi mài kinh sử, quyết đỗ đại khoa
để trả nghĩa cho nhạc phụ.
9
Quả nhiên, khoa thi Giáp Dần (1374), Nguyễn Ứng Long đỗ
Thái học sinh. Rất tiếc là lúc bấy giờ, Thượng hoàng Trần Nghệ
Tông cho rằng ông là con nhà thường dân mà dám cả gan lấy con
gái nhà tôn thất nên không cho ông làm quan. Bởi lẽ này, Nguyễn
Ứng Long bỏ về quê mình là làng Nhị Khê để mở trường dạy học.
Học trò nghe tiếng ông theo về ngày một đông.
10
Kết duyên cùng Nguyễn Ứng Long, Trần Thị Thái đã sinh
hạ tất cả năm người con trai. Nguyễn Trãi là con đầu, kế đến là
Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn
Phi Hùng. Khi cha về dạy học ở làng Nhị Khê, Nguyễn Trãi vẫn
ở lại tư dinh của ông ngoại cùng mẹ và các em của mình.
11
Tháng bảy năm Ất Sửu (1385), Trần Nguyên Đán xin về trí
sĩ và được triều đình nhà Trần chấp thuận. Ông dọn về ở hẳn tại
Côn Sơn, dựng động Thanh Hư và bia đá. Vua Trần Duệ Tông
ngự bút đề tặng ba chữ Thanh Hư động, còn Thượng hoàng Trần
Nghệ Tông thì viết bài minh khắc vào bia.
12
Bấy giờ, Nguyễn Trãi cùng mẹ và các em của mình cũng theo
ông ngoại về Côn Sơn. Tại đây, Nguyễn Trãi bắt đầu được đi học.
Và người thầy đầu tiên của ông chính là mẹ ông, bà Trần Thị Thái.
Nhưng tiếc là chưa được bao lâu thì mẹ ông lâm bệnh nặng qua
đời. Ông và các em phải sống dựa vào ông ngoại.
13
Người thầy giáo quan trọng thứ hai của Nguyễn Trãi chính là
ông ngoại của ông, nhà bác học, quan Đại Tư đồ Trần Nguyên
Đán. Đến năm 1390, Trần Nguyên Đán qua đời. Bấy giờ, Nguyễn
Trãi và các em của ông mới chuyển về ở hẳn với cha tại làng Nhị
Khê. Lúc này, Nguyễn Ứng Long trực tiếp dạy dỗ và kèm cặp
các con mình.
14
Sinh ra trong một gia đình đặc biệt như vậy, lại may mắn có
trí thông minh bẩm sinh, Nguyễn Trãi học hành tấn tới rất nhanh.
Khoa Canh Thìn, niên hiệu Thánh Nguyên năm thứ nhất (tức là
năm 1400 dưới triều Hồ), Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh(*).
* Học vị nay bắt đầu có kể từ năm 1232 và từ năm 1442 thì đổi, gọi là Tiến sĩ.
15
Nguyễn Trãi cùng với cha là Nguyễn Ứng Long (lúc này đã
đổi tên là Nguyễn Phi Khanh) cùng ra làm quan cho nhà Hồ.
Nguyễn Phi Khanh được trao chức Hàn lâm Học sĩ kiêm Quốc
Tử Giám Tu nghiệp và được phong hàm Đại lý Tự khanh. Đó là
những chức hàm quan trọng dành cho hàng quan văn xuất thân từ
khoa bảng. Lần đầu tiên sau 26 năm đỗ đạt, Nguyễn Phi Khanh
mới được trao quan chức.
16
Nguyễn Trãi cũng được trao chức Ngự sử đài Chánh chưởng.
Với chức vị này, Nguyễn Trãi có nhiệm vụ can gián bá quan và
triều đình, thậm chí can gián cả nhà vua khi xét thấy cần. Chức
này, nếu không phải là bậc đại trí, vừa trung thực và thẳng thắn
lại vừa khôn khéo và kiên quyết thì khó mà làm được.
17
Không thấy sử chép gì về quá trình làm
quan này của Nguyễn Trãi, có lẽ vì triều
Hồ tồn tại quá ngắn (chưa đầy 7 năm, từ
đầu năm 1400 đến giữa năm 1407). Tuy
nhiên, căn cứ vào câu Nguyễn Trãi viết
trong Bình Ngô đại cáo: “Khoảnh nhân
Hồ chính chi phiền hà...” (Nhân họ Hồ
chính sự phiền hà), chúng ta có thể đoán
là ông không bằng lòng với nhiều chính
sách của nhà Hồ.
18
Cuối năm 1406, nhà Minh mượn danh nghĩa phù Trần diệt Hồ
để xua quân xâm lược nước ta. Sau sáu tháng cầm cự một cách
lúng túng và kém hiệu quả, toàn bộ lực lượng kháng chiến do nhà
Hồ lãnh đạo đã bị tan rã. Tháng 5 năm Đinh Hợi (tức tháng 6 năm
1407), hầu hết vua quan nhà Hồ, từ Thượng hoàng Hồ Quý Ly,
vua Hồ Hán Thương đến tổng chỉ huy quân đội là Hồ Nguyên
Trừng cùng đông đảo văn thần và võ tướng đều bị bắt và bị giải
sang Trung Quốc.
19
Bấy giờ, thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cũng
ở trong số đó, nhưng không rõ vì sao Nguyễn Trãi lại không bị
chúng bắt ngay. Một số thư tịch cổ cho biết rằng được tin ấy,
Nguyễn Trãi cùng các em bám theo xe tù, tìm cách đi theo sang
Trung Quốc để mong được phụng dưỡng cha già.
20
Tới ải Nam Quan, nhân lúc lính áp giải nghỉ
ngơi, Nguyễn Trãi cùng các em đến tận xe tù nói
rõ ước nguyện của mình với cha. Nguyễn Phi
Khanh nghiêm mặt nói: “Nay là lúc nước mất
nhà tan, đạo làm tôi phải lấy việc rửa nhục cho
nước làm trung, đạo làm con phải lấy việc trả thù
cho cha làm hiếu, có đâu lại cứ đi theo mà khóc
như đàn bà con gái thì mới là hiếu là trung!”.
21
Nhận ra những ý nghĩa rất sâu sắc hàm
chứa trong câu nói của cha, Nguyễn Trãi
đã quay lại. Và đó cũng là lần gặp gỡ cuối
cùng của Nguyễn Trãi đối với người cha,
cũng là người thầy của ông; nhưng câu nói
của cha đã in dấu sâu đậm trong tâm hồn
Nguyễn Trãi và có ảnh hưởng rất lớn tới
cuộc đời của ông sau này. Từ đây, những
ngày Nguyễn Trãi trăn trở nghĩ kế “rửa
nhục cho nước, trả thù cho cha” bắt đầu.
22
Nhưng trên đường quay trở lại, Nguyễn Trãi không may bị giặc
phát hiện và bắt đem về Đông Quan. Tướng tổng chỉ huy quân
Minh lúc đó là Trương Phụ biết Nguyễn Trãi là một trí thức tài
ba nên đã dùng đủ mọi cách để dụ dỗ, mua chuộc, hy vọng ông
sẽ cộng tác với chúng. Nhưng trước sau Nguyễn Trãi vẫn một
mực chối từ.
23
Trương Phụ tức giận sai quân đem
Nguyễn Trãi đi chém đầu. Nhưng ngay lúc
ấy, quan Thượng thư của giặc là Hoàng Phúc
liền ngăn lại. Hắn cho rằng dụ dỗ một người
như Nguyễn Trãi thì không thể ngày một
ngày hai được. Vì thế, Trương Phụ không
chém Nguyễn Trãi, nhưng đem ông giam
lỏng trong một ngôi nhà nhỏ trong thành
Đông Quan.
24
Kẻ thù rất gian ngoan nhưng chúng đã lầm. Nơi bị giam lỏng
cũng là nơi Nguyễn Trãi ngày đêm suy tính kế sách cứu nước cứu
nhà. Ông tìm cách liên lạc với phong trào khởi nghĩa chống quân
Minh xâm lược đang bùng nổ dữ dội ở khắp nơi. Và cuối cùng,
ông quyết định cùng với người anh em họ là Trần Nguyên Hãn,
bí mật trốn khỏi Đông Quan, tìm vào Lam Sơn với Lê Lợi.
25
Sử sách cũ không nói rõ Nguyễn Trãi đã thoát khỏi Đông Quan
bằng cách nào và vào thời điểm cụ thể nào. Tuy nhiên, những kết
quả nghiên cứu gần đây cho thấy, Nguyễn Trãi đã có mặt ở Lam
Sơn trước năm 1416, tức là trước khi Lê Lợi tổ chức hội thề Lũng
Nhai. Đến với Lê Lợi và các nghĩa sĩ Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã
mang theo một công trình rất có giá trị, đó là cuốn Bình Ngô sách
tổng kết tất cả những sách lược đánh giặc Ngô mà có lẽ ông đã
suy ngẫm suốt những năm bị giam lỏng ở kinh thành.
26
Trải qua bao phen binh lửa, Bình Ngô sách nay không còn nữa,
nhưng nhiều thư tịch cổ của các bậc tiền bối đã viết những lời rất
trang trọng về tác phẩm hết sức đặc biệt này. Có thể nói, Bình Ngô
sách đã đặt nền tảng tư tưởng cho toàn bộ quá trình hình thành,
phát triển và thắng lợi vẻ vang của phong trào Lam Sơn. Ngay từ
đầu, Bình Ngô sách đã góp phần định hướng rõ rệt cho Lam Sơn
là phải từ cuộc khởi nghĩa vũ trang phát triển thành chiến tranh
giải phóng trên quy mô cả nước.
27
Cuộc gặp gỡ giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi quả đúng là
anh hùng tương ngộ. Từ đó, Lê Lợi luôn cùng Nguyễn
Trãi bàn bạc kế sách. Đáp lại,
Nguyễn Trãi cũng một lòng trung
thành với Lê Lợi và sự nghiệp cứu
nước của các nghĩa sĩ Lam Sơn.
Trong suốt cuộc kháng chiến, những
ý tưởng sắc sảo của Nguyễn Trãi
luôn được sự ủng hộ của Lê Lợi và
Bộ chỉ huy Lam Sơn nên đã đem lại
những kết quả tốt đẹp.
28
Ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân
(1416), Lê Lợi long trọng tổ chức hội
thề Lũng Nhai. Về thực chất, đây chính
là buổi lễ ra mắt dưới một dạng thức đặc
biệt của Bộ chỉ huy Lam Sơn. Nguyễn
Trãi tham dự và trở thành mưu sĩ số một
của Lê Lợi. Từ đây, với cương vị mới mẻ
này, Nguyễn Trãi đã dốc hết tâm lực vào
cuộc khởi nghĩa.
29
Trong suốt quá trình tham gia khởi
nghĩa, Nguyễn Trãi là người có công
khai sinh ra một loạt những tư tưởng
chiến lược lớn của Lam Sơn, đồng thời
cũng là người trực tiếp chỉ huy thực
hiện xuất sắc tất cả các tư tưởng chiến
lược ấy. Ở một chừng mực nhất định
nào đó, chúng ta có thể nói, Nguyễn
Trãi chính là linh hồn của nghĩa quân
Lam Sơn.
30
Vốn là người có tấm lòng nhân ái, bao dung, lại từng sống gần
gũi trong dân chúng, Nguyễn Trãi hiểu được nỗi thống khổ của
dân dưới ách giặc Minh. Vì vậy, ông chủ trương kết hợp chặt chẽ
giữa nhiệm vụ cứu nước với nhiệm vụ cứu dân. Đây là điều mà
trước ông, chưa có lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa nào nhận thức
được. Nguyên nhân sâu sa dẫn đến thất bại của các cuộc khởi
nghĩa chống giặc Minh trước Lam Sơn chính là ở đấy.
31
Nhưng mặt khác, Nguyễn Trãi lại thấy được sức mạnh to lớn
của dân nên ông chủ trương tấn công quyết liệt vào lòng người.
Đây là cuộc tấn công vừa nhằm tập hợp và động viên cao độ sức
mạnh cũng như trí tuệ của toàn dân, vừa nhằm phân hóa và cô lập
kẻ thù một cách sâu sắc. Chính nhờ đó, nghĩa quân Lam Sơn đã
vượt qua được những ngày tháng gian khổ nhất để giành thắng lợi.
32
Không chỉ có những tư tưởng lớn vượt lên trên thời đại của
mình, Nguyễn Trãi còn có những tài năng đặc biệt về quân sự.
Ngoài việc vạch đường đi nước bước cho nghĩa quân trong Bình
Ngô sách; khi lâm trận, ông đã chủ động, linh hoạt tấn công giặc
đồng loạt trên nhiều mặt trận: vũ trang, binh vận, ngoại giao...
Chính cuộc tấn công liên tục và đồng loạt này đã khiến giặc Minh
bị động đối phó một cách lúng túng để rồi cuối cùng phải đành
cam chịu thất bại.
33
Góp sức chủ yếu vào cuộc đấu tranh binh vận và ngoại giao là
tiếng nói và ngòi bút tuyệt vời của Nguyễn Trãi, nó có sức mạnh
chẳng kém gì “cả chục vạn quân thiện chiến”. Hàng chục thành trì
kiên cố của giặc, kể cả sào huyệt nguy hiểm cuối cùng của chúng
là thành Đông Quan, cũng đều hạ vũ khí đầu hàng bởi cuộc tấn
công bằng ngòi bút và tiếng nói của ông. Có thể nói, trong lịch sử
đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, chưa có cuộc kháng chiến nào kẻ
thù lại nhận được nhiều thư từ với những lời lẽ ôn hòa nhưng kiên
quyết khiến chúng luôn phải lo lắng sợ hãi như khởi nghĩa Lam Sơn.
34
Ngay sau ngày toàn thắng, được sự ủy thác
của Lê Lợi và Bộ chỉ huy Lam Sơn, Nguyễn Trãi
đã viết bài Bình Ngô đại cáo. Đó thực sự là một
tuyệt tác văn học, đồng thời cũng là một văn kiện
chính trị có ý nghĩa thiêng liêng như bản tuyên
ngôn độc lập lần thứ hai(*) của nước nhà. Áng
thiên cổ hùng văn này đã đưa Nguyễn Trãi vào
hàng những tác gia kiệt xuất, góp phần làm rạng
rỡ nền văn hiến của dân tộc ta.
* Bài Nam quốc sơn hà tương truyền của Lý Thường Kiệt được
coi như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất.
35
Nhờ liên tục có những cống hiến to lớn như thế, sau khi đánh
đuổi được quân Minh và giải phóng đất nước, khi Lê Lợi lên ngôi
Hoàng đế và định công ban thưởng cho bá quan văn võ, Nguyễn
Trãi được mang quốc tính là họ Lê, tước Á hầu, chức Hành khiển,
quyền đứng đầu ban văn. Ông là một trong số 93 người được vinh
dự khắc tên vào biển Khai Quốc Công Thần của triều Lê.
36
Ngay khi vừa được dựng lên, nhà Lê đã ra sức tiến hành một
loạt những biện pháp tích cực và tiến bộ, nhằm nhanh chóng đưa
đất nước đi lên. Nhưng cũng từ đó, một số văn thần và võ tướng
cậy có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến trước đây, đã không
ngừng kiếm kế vun vén cho bản thân. Nghĩa tình những ngày đồng
cam chịu khổ và chia ngọt xẻ bùi khi xưa, dần dần bị phai nhạt.
37
Sự lộng hành của bọn xu nịnh, sự giảo hoạt của bọn cơ hội và
sự tự mãn của những người vừa được trao chức tước lớn... khiến
cho Nguyễn Trãi vô cùng lo âu. Những cái chết oan ức của Trần
Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo và Lưu Nhân Chú(*)... khiến cho ông
xót xa, đau đớn. Và đúng lúc ấy, đến lượt Nguyễn Trãi cũng bị
gièm pha, khích bác.
* Xem tập Sáng lập triều Lê.
38
Rắc rối lớn đầu tiên của Nguyễn Trãi là sự kiện xảy ra vào
tháng 5 năm Giáp Dần (1434), sau khi Lê Thái Tổ băng hà. Hôm
ấy, triều đình quyết định cử Nguyễn Tông Trụ, Thái Quân Thực
và Đái Lương Bật đi sứ sang Trung Quốc, dâng biểu cầu phong
cho vua mới là Lê Nguyên Long (tức Lê Thái Tông, lúc ấy mới
11 tuổi). Nguyễn Trãi là người được triều đình giao soạn tờ biểu
văn này.
39
Bấy giờ quan giữ chức Nội mật viện
là Nguyễn Thúc Huệ và Học sĩ là Lê
Cảnh Xước muốn sửa vài ba chữ trong
tờ biểu văn. Bởi ghét bọn tài hèn đức
mỏng mà lắm lời, Nguyễn Trãi mắng:
“Các người chỉ là hạng bề tôi hay vơ
vét. Nạn hạn hán hiện nay đều do các
người gây nên cả”. Nói xong, ông lặng
lẽ bỏ đi.
40
Nguyễn Thúc Huệ và Lê Cảnh Xước tức tối liền đến xúc xiểm
mọi chuyện với Đại Tư đồ Lê Sát và Đô đốc Phạm Vấn. Phạm
Vấn tức lắm, trách Nguyễn Trãi rằng: “Thiên tai nào phải do bọn
ấy gây ra, lỗi là ở vua và Tể tướng. Sao ông nỡ nói nặng lời thế?”.
Nguyễn Trãi buộc phải nói toàn bộ sự thật về sự tham lam của
hai tên này.
41
Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 3 năm Ất Mão (1435). Bấy
giờ có 7 tên trộm tái phạm tội, nhưng tất cả đều còn rất trẻ tuổi.
Triều đình bàn là nên xử chém. Quan Đại Tư đồ Lê Sát bèn tâu
vua. Vua chưa biết giải quyết ra sao nên hỏi ý Nguyễn Trãi. Biết
vua còn nhỏ tuổi, muốn nhân việc này khuyên vua tránh xa những
điều bạo ngược đang là mầm mống gây mọi xáo trộn trong nước,
ông nói: “Đấng minh quân xử việc bao giờ cũng bắt đầu và kết
thúc ở chí nhân và đại nghĩa”.
42
Nghe lời ấy của Nguyễn Trãi, Lê Sát vốn từng bỏ thuốc độc
giết người không cùng phe cánh(*) nên chạnh lòng, bảo: “Ông có
nhân nghĩa ắt có thể cảm hóa được kẻ ác thành người thiện. Vậy
xin giao chúng cho ông và phiền ông cảm hóa cho”. Nguyễn Trãi
biết ý từ chối: “Chúng đều là hạng trẻ con rất ranh mãnh. Pháp
luật của triều đình còn không trị được, huống hồ bọn đức mỏng
như chúng tôi cảm hóa thế nào”. Sau, triều đình quyết định chém
hai tên, còn thì bắt đi đày. Nhưng từ đó Lê Sát đối với Nguyễn
Trãi không còn như trước.
* Xem tập Sáng lập triều Lê.
43
Ít lâu sau, triều đình đề cử
Nguyễn Trãi và Trình Thuấn
Du cùng với vài ba đại thần
nữa, lo việc thay phiên vào hầu
vua giảng học. Vua không chấp
thuận, chỉ lo vui chơi cho thỏa
thích. Sử cũ chép rằng có người
tiến dâng cho vua một con hươu
rừng. Vua liền cho voi đánh nhau
với con hươu ấy. Con hươu bị tấn
công thì vùng lên, húc bừa vào
voi khiến cho voi sợ phải lùi về
sau, chẳng may bị sa xuống giếng
mà chết. Các quan khuyên can
mãi mà vua vẫn chứng nào tật ấy.
44
Sự hoang chơi của nhà vua nhỏ tuổi đã tạo cơ hội cho bọn tham
quan ô lại mặc sức tìm cách đục khoét dân lành. Những dấu hiệu
của sự tha hóa ấy đã khiến cho Nguyễn Trãi càng ngày càng chán
nản. Ông cảm thấy mình xa lạ giữa những người thân thiết cũ và
thực sự lo lắng cho cơ đồ của nhà Lê.
45
Giữa lúc đó, vào năm 1437, lại có một việc xảy ra. Bấy giờ
Nguyễn Trãi được lệnh cùng với viên hoạn quan lo việc soạn nhã
nhạc cho triều đình. Sau khi vẽ xong mẫu của chiếc khánh đá,
Nguyễn Trãi dâng sớ tâu vua, đại ý nói rằng: Thái bình là gốc của
nhạc, nếu bệ hạ thương dân thì đó đã là xây gốc vững cho nhạc.
46
Thái giám Lương Đăng cũng dâng lời tâu lên vua, nhưng lời lẽ
của y xun xoe nịnh bợ, trái ngược hẳn với lời tâu của Nguyễn Trãi.
Rất tiếc là nhà vua trẻ tuổi chưa đủ sức để thẩm định đúng sai,
hay dở nên đã ưng theo lời tâu của Lương Đăng, bất chấp những
lời khuyên can của rất đông quan lại đương thời.
47
Từ khoảng năm 1439 trở đi, khi Lê Thái Tông đã đến tuổi
trưởng thành, bắt đầu có khả năng điều hành công việc của triều
đình và có ý thức chỉnh đốn kỉ cương phép nước, Nguyễn Trãi
mới được sống những ngày tương đối thảnh thơi. Ông được phép
về ở tại Côn Sơn, điều hành quân dân hai đạo Đông Bắc, chỉ thỉnh
thoảng mới về triều bàn việc.
48
 






