LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3
CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Lịch sử Việt Nam t47

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:40' 09-03-2024
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:40' 09-03-2024
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chủ biên
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Biên soạn
LÊ VĂN NĂM
Họa sĩ
TÔ HOÀI ĐẠT
LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH
TẬP 47
HỌ TRỊNH
TRÊN ĐƯỜNG SUY VONG
N H Đ X U ẤT B Ả N T R Ẻ
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: TÔ HOÀI ĐẠT
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Họ Trịnh trên đường suy vong / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn ;
Tô Hoài Đạt minh họa. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2011.
84 tr. : minh họa ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.47).
1. Việt Nam — Lịch sử — 1592-1788 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn
Năm. III. Tô Hoài Đạt. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
959.70272 — dc 22
H678
LỜI GIỚI THIỆU
Thịnh suy của một triều đại là lẽ tự nhiên, dẫu cực kỳ
chói sáng như triều Lý, oanh liệt vẻ vang như triều Trần
vẫn không tránh khỏi ngày diệt vong. Triều Lý tồn tại
được hơn hai trăm năm, triều Trần được gần hai thế
kỷ. Nhà Lê đánh đuổi ngoại xâm, lại bị họ Mạc tiếm
quyền. Họ Trịnh dựng lại triều Lê, dẹp nhà Mạc, đưa
vua Lê về Thăng Long. Các chúa Trịnh nối nhau cai
quản đất nước, vua Lê không có thực quyền. Chúa Trịnh
trải qua một thời cực thịnh. Nay trong phủ chúa, hoạn
quan lộng hành, mưu quyền đoạt vị. Chính nghĩa không
mạnh, quang minh đã mờ. Họ Trịnh lâm vào con đường
suy vong.
Tập 47 của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh giai đoạn
“Họ Trịnh trên đường suy vong” phần lời do Ngô Văn
Năm biên soạn, phần hình ảnh do Tô Hoài Đạt thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 47 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Uy Nam Vương Trịnh Giang là con trưởng của An Đô
Vương Trịnh Cương. Ông sinh năm 1711 và là vị chúa
Trịnh thứ bảy. Khi còn là Thế tử, Thái phó của ông Nguyễn Công Hãng - đã dâng mật sớ với chúa Trịnh
Cương nhận xét ông là người ươn hèn, không thể gánh
vác ngôi chúa. Trịnh Cương đã có ý định thay ngôi Thế
tử nhưng chưa thực hiện thì đã đột ngột qua đời, Trịnh
Giang lên nối ngôi.
Sau khi nối ngôi, Trịnh Giang chỉ hưởng lạc, không màng
chính sự. Trước tình hình ấy, bà thái phi họ Vũ (mẹ của
Trịnh Giang và Trịnh Doanh) đã cùng với một số đại
thần tìm cách đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa. Dù là
người tài giỏi nhưng Trịnh Doanh cũng chẳng thể cứu
vãn được sự suy tàn của họ Trịnh.
Khi vừa lên ngôi chúa, Trịnh Giang sai quan lại đến các địa
phương xem xét đời sống dân chúng, phân hạng làng xã để giảm
sưu thuế. Thấy dân chúng khổ sở, chúa nghe theo đề nghị của
Nguyễn Công Hãng, mạnh tay cho bỏ một số loại thuế quá nặng
nề như thuế thổ sản, thuế muối,...
5
Để thể hiện biết lo cho dân, muốn việc cai trị được tốt đẹp,
Trịnh Giang ra dụ cầu lời nói trung thực, lấy ý kiến các quan về
việc cai trị. Bùi Sĩ Tiêm đã chỉ ra những chỗ mục nát trong bộ
máy cai trị và nói rằng: “Nạn cầu cạnh để được chức tước là đầu
mối rối loạn kỉ cương phép nước”.
6
Bùi Sĩ Tiêm nêu ra mười điều chúa cần cấp bách thực hiện để
chỉnh đốn lại việc cai trị. Làm cho bọn bất tài vây quanh chúa
mất đi nhiều quyền lợi, quan lại phủ chúa ra sức phản bác Bùi Sĩ
Tiêm. Vì vậy, Trịnh Giang đã tước bỏ quan chức của Bùi Sĩ Tiêm
và đuổi ông về quê.
7
Khi Trịnh Cương chọn Thế tử, một số triều
thần như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuần, Đỗ
Bá Phẩm đã can gián Trịnh Cương không nên
chọn Giang. Vì thế, khi lên ngôi chúa, Giang
ra sức ám hại những người không phục mình.
Năm 1732, Trịnh Giang cho bọn tay chân thêu
dệt, vu cho Nguyễn Công Hãng các tội: chôn
cất mồ mả tổ tiên vào đất long mạch, lập sơn
trang, chiêu tập, gây dựng lực lượng âm mưu
làm phản. Trịnh Giang giáng Nguyễn Công
Hãng xuống làm Thừa chính sứ Tuyên Quang
và sau đó bức tử.
8
Năm 1736, Lê Anh Tuấn bị giáng làm Đốc trấn Lạng Sơn rồi
cũng bị giết. Sử cũ ghi lại: mọi người trong kinh ngoài trấn đều
thương tiếc vị quan có tài văn chương và tính tình trầm lặng kín
đáo này.
9
Đỗ Bá Phẩm bị đưa đi làm Tuần phủ xứ An Quảng (Quảng
Ninh ngày nay). Trịnh Giang muốn giết Đỗ Bá Phẩm nên giao
cho Tể tướng Nguyễn Hiệu tìm cách bắt tội. Nguyễn Hiệu chần
chừ nên bị Trịnh Giang giáng chức. Sau đó, Trịnh Giang bắt Đỗ
Bá Phẩm phải tự tử.
10
Trịnh Giang thường bảo với các triều thần: “Ta thường nghĩ trị
nước cốt phải xa lánh gian nịnh”. Thế nhưng, Trịnh Giang lại tin
dùng bọn hoạn quan xu nịnh. Năm 1739, Giang đặt thêm giám
ban - chỉ toàn hoạn quan ngang hàng với hai ban văn, võ. Được
thế, hoạn quan, đứng đầu là Hoàng Công Phụ, càng lộng hành,
lũng đoạn triều chính, ám hại công thần.
11
Do không ưa tính tình ngay thẳng chính
trực của Thiêm quận công Trương Nhưng
- cậu Trịnh Cương, Hoàng Công Phụ gieo
cho Trịnh Giang mối nghi ngờ Trương
Nhưng âm mưu chống lại Trịnh Giang. Vì
thế, Trịnh Giang bí mật mang thuốc độc
đến, ép buộc Trương Nhưng phải uống.
12
Ở triều đình, đang ở ngôi vua là Lê Duy Phường (con vua Lê
Dụ Tông) - con thứ của vua Lê Dụ Tông và là cháu ngoại của
Trịnh Kiểm. Để tỏ rõ uy quyền của mình, Trịnh Giang vu tội nhà
vua tư thông với phi tần của Trịnh Cương, phế làm Hôn Đức công.
13
Để chọn vua mới, Trịnh Giang cho dẫn 12 người con của Dụ
Tông đến phủ chúa để xem mặt và chọn người con trưởng là Lê
Duy Tường đưa lên ngai vàng tức Lê Thuần Tông (1732-1735).
Năm 1735, Trịnh Giang thắt cổ giết chết Lê Duy Phường.
14
Cũng năm ấy, Thuần Tông mất. Do lo sợ Lê Duy Diêu - con cả
của Thuần Tông - đã trưởng thành khó bề sai khiến, Trịnh Giang
đã chọn Lê Duy Thận - em vua Lê Thuần Tông - từ nhỏ đã được
nuôi dạy trong phủ chúa, lên nối ngôi.
15
Trong khi Giang tìm mọi cách triệt tiêu quyền
lực của vua Lê để thâu tóm quyền hành về phủ
chúa thì ở phủ chúa, Trịnh Giang để cho bọn hoạn
quan xu nịnh, đứng đầu là Hoàng Công Phụ, chi
phối ngày càng nhiều vào việc cai trị. Trịnh Tuệ
vốn có mối thân tình với Hoàng Công Phụ nên Phụ
xin với Trịnh Giang cho Tuệ đỗ đầu khoa thi Đình
năm 1736 (tương đương với Trạng Nguyên).
16
Với sự cất nhắc của Hoàng Công
Phụ, Trịnh Tuệ thăng quan tiến chức
nhanh chóng. Chỉ ba năm sau, Tuệ đã
ngoi lên chức Tể tướng. Trong triều,
Trịnh Tuệ và Hoàng Công Phụ kết bè
phái, lũng đoạn bộ máy chính quyền
trung ương của triều đình Lê - Trịnh. Sử
cũ ghi lại: “(Phạm Công Phụ và Trịnh Tuệ)
khi nắm quyền thì trong xướng ngoài họa, lũ
tiểu nhân không còn né sợ gì nữa, triều chính
phiền toái, thưởng phạt sai trái, trong nước từ
đây sinh ra lắm chuyện”.
17
Trịnh Giang rất thích âm nhạc và văn chương. Những ngày
không thiết triều, Giang mở yến tiệc trong phủ chúa để cùng các
quan văn luận bàn văn chương, xướng họa.
18
Trịnh Giang còn định ra lễ nghi rườm rà nhằm tăng vẻ long
trọng cho những việc mình làm. Giang quy định hằng ngày lúc
chúa ra coi chầu (làm việc với các quan), ban nhạc sắp hàng hai
bên phủ đường. Khi cửa phủ mở thì nhạc công bắt đầu tấu nhạc
chào mừng, khi các quan lạy xong mới dừng. Lúc Trịnh Giang
đi tuần du, mỗi lần bắt đầu hay dừng lại nghỉ ngơi, quân lính đều
phải bắn ba phát đại bác làm hiệu lệnh. Khi di chuyển, có lính
mang cờ mở đường và nhạc công tấu nhạc.
19
Năm 1736, để có nhiều thời giờ cho các cuộc truy hoan, Trịnh
Giang phong cho em ruột mình là Trịnh Doanh làm Tiết chế thủy
bộ quân, chức Thái úy, tước Ân quốc công. Trịnh Doanh mỗi
tháng ba lần hội các quan trong triều để nghe tấu trình các việc.
Còn Trịnh Giang rỗi rảnh, mặc sức ăn chơi. Có lúc Trịnh Giang
rời phủ chúa đi chơi nhiều ngày, các quan không biết tìm ở đâu.
20
Năm 1739, trong lúc đi chơi ở Quế
Trạo (huyện Quế Dương, trấn Kinh Bắc,
quê của Hoàng Công Phụ), Trịnh Giang
sai tay chân giả làm sứ nhà Thanh mang
sắc và ấn phong cho mình làm An Nam
thượng vương, ngang hàng với cả vua Lê.
21
Cũng giống cha, Trịnh Giang ham thích tuần du, xây cất tốn
kém. Vì vậy, Giang cho xây dựng chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ
ở nhiều nơi. Năm 1730, Trịnh Giang cho tu sửa chùa Quỳnh Lâm
ở xã Đông Triều, huyện Đông Triều, trấn Hải Dương (nay thuộc
tỉnh Quảng Ninh) và chùa Sùng Nghiêm ở xã Nam Giản, huyện
Chí Linh, trấn Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hải Dương).
22
Sau bốn năm, việc xây cất chùa Quỳnh Lâm vẫn chưa xong,
chúa sai: “lấy dân phu ba huyện thuộc Hải Dương phục dịch, khai
bốn đoạn sông để thông đường kéo gỗ, chở đá”. Do vậy, thường
xuyên có đến hàng vạn người làm việc cả ngày lẫn đêm, không
được nghỉ ngơi.
23
Không những thế, Trịnh Giang lại cho khởi công xây dựng chùa
Hồ Thiên trên một đỉnh núi ở huyện Bảo Lộc, trấn Kinh Bắc (nay
thuộc tỉnh Bắc Giang) và chùa Hương Hải ở xã Phủ Vệ, huyện
Chí Linh, trấn Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Lần này,
chúa cho huy động dân của bốn huyện lân cận làm công việc này
vô cùng vất vả. Cả dân vùng Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay)
xa xôi phải cung cấp gỗ lim và đá cho công trình này.
24
Cùng lúc, Trịnh Giang cho xây cất các đền, phủ vô
cùng tráng lệ tại quê ngoại ở hai xã Tử Dương, huyện
Đông Yên, thừa tuyên Sơn Nam (nay thuộc tỉnh
Hưng Yên) và My Thữ, huyện Đường Hào,
trấn Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hưng
Yên). Hoạn quan được giao
nhiệm vụ tìm mua gỗ, đá và
đốc thúc xây dựng được dịp
lũng đoạn. Chúng “đốc thúc
hà khắc, khiến nhà nông khốn
cùng, nhà buôn sạt nghiệp”.
25
Năm 1737, Trịnh Giang sai đúc tượng Phật lớn cho chùa Quỳnh
Lâm. Đồng trong kho nhà nước không đủ, Trịnh Giang bắt các
quan lại phải nộp đồng nhiều hay ít tùy phẩm tước cao thấp. Để
có đồng đem nộp, quan trên lại bắt quan dưới nộp cho mình, cuối
cùng mọi gánh nặng đổ trên vai người dân.
26
Năm 1736, để có tiền chi xài, Trịnh
Giang cho bán quan chức. Quan và
dân đều được phép nộp tiền để được
cất nhắc trao chức phẩm. Tiền càng
nhiều thì chức càng cao. “Quan lục
phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan tiền
thì được thăng một bậc. Dân thường
nếu nộp 2800 quan thì được bổ làm
tri phủ, nộp 1800 quan thì được bổ
làm tri huyện”.
27
Có lần, Trịnh Giang bị sét đánh suýt chết. Từ đó, Trịnh Giang
đâm sợ sấm sét. Lợi dụng tâm lý này, hoạn quan do Hoàng Công
Phụ đứng đầu bày cho Trịnh Giang đào hầm tránh tai họa. Trịnh
Giang cho làm cung Thưởng Trì dưới mặt đất ở xã Hoàng Mai,
huyện Thanh Trì, Thăng Long (nay thuộc Hà Nội) để ở. Từ đấy,
Trịnh Giang không bước chân ra ngoài, hoạn quan mặc tình tác
oai tác quái.
28
Trong triều, Hoàng Công Phụ hãm hại những người chống đối
mình. Tình hình lúc bấy giờ được ghi lại: “Không ngày nào không
có đại thần bị đuổi, bị giết hay bị khiển trách. Kẻ có thù oán thì
nhân đấy tìm cách hãm hại nhau. Người bị bắt bớ thì tán gia bại
sản. Dân chúng oán hận vì bị bóc lột và thuế má nặng nề”.
29
Vì thế, cuối năm 1737, không chịu nổi áp bức, nhũng nhiễu,
người dân đã nổi lên chống lại bọn quan lại, nhất là ở vùng Thái
Nguyên, Sơn Tây. Ở các vùng này, “trộm cướp nổi lên như ong”.
Từ những cuộc nổi dậy lẻ tẻ đó, những người dân cùng khổ đã dần
tụ họp lại dưới trướng nhà sư Nguyễn Đương Hưng.
30
Nguyễn Đương Hưng đã tập hợp lực lượng
lên đến vài ngàn người, thế lực khá mạnh. Ông
xưng vương hiệu, đặt chức, lập căn cứ ở Tam
Đảo. Triều đình Lê - Trịnh phải cho đặt những
đài hỏa hiệu trên núi. Khi nghĩa quân tiến đánh
nơi nào thì quân lính trên đài phải đốt lửa báo
hiệu cho các nơi khác biết để nhanh chóng
đem quân cứu viện.
31
Dân chúng trong thành Thăng Long nghe về cuộc khởi nghĩa
rất hoảng sợ. Người thì dắt díu nhau ra khỏi kinh thành lánh nạn,
người thì đào hầm chôn giấu của cải, trữ lương khô phòng lúc
quân khởi nghĩa đánh vào Thăng Long. Tuy nhiên, triều đình Lê
- Trịnh nhanh chóng trấn áp được cuộc khởi nghĩa của Nguyễn
Đương Hưng.
32
Ở kinh đô, nhiều tôn thất nhà Lê căm giận việc
họ Trịnh lấn áp vua Lê nên ngấm ngầm tìm cách
chống Trịnh. Lê Duy Mật, Lê Duy Quy (con vua Lê
Dụ Tông) cùng với chú là Lê Duy Chúc (con vua Lê
Hy Tông) mưu tính nổi dậy, diệt trừ họ Trịnh. Âm
mưu bị lộ, các triều thần tham gia đều bị bắt, Duy
Mật, Duy Quy, Duy Chúc chạy vào Thanh Hóa. Ít
lâu sau, Duy Quy, Duy Chúc lâm bệnh nặng qua đời.
33
Thấy tình hình ngày một bất ổn, Trịnh Giang cho tăng cường
lực lượng binh lính, tìm bắt lính đào ngũ, bắt thêm lính mới, củng
cố lại dân binh ở các làng xã.
34
Chúa Trịnh ra lệnh các xã cứ mười dân đinh thì chọn lấy bảy,
tự sắm lấy đồ binh khí, lập điếm canh để canh phòng. Lực lượng
của bốn - năm xã đông dân hoặc sáu - bảy xã ít dân địa thế tiếp
giáp nhau đặt dưới quyền chỉ huy của một quan chức cấp huyện.
Tuy nhiên, biện pháp này không đem đến kết quả như mong muốn.
Dân chúng được tích trữ binh khí nên dễ dàng nổi lên chống lại
quan lại, triều đình. Các cuộc nổi dậy không những không giảm
đi mà trái lại lại càng gia tăng. Cho nên, không bao lâu sau, phép
này phải bãi bỏ.
35
Các cuộc nổi dậy của nông dân lan tràn khắp nơi và ngày một
lớn mạnh. Đến giữa năm 1739, tình hình Đàng Ngoài rối loạn:
“miền núi, nơi biên viễn, trộm cướp nhóm họp” còn ở “bốn trấn
bên trong, giặc giã cũng nổi dậy khắp nơi”. Nhiều cuộc khởi nghĩa
với hàng nghìn, hàng vạn dân nghèo tham gia như: cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở Ninh Xá (nay thuộc Hải
Dương), Hoàng Công Chất ở Sơn Nam (nay thuộc Hưng Yên),
Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch (nay thuộc Hải Dương),...
36
Trong khi đó tại phủ chúa, Trịnh Doanh thay anh trông coi
việc triều chính, nhưng vì nhỏ tuổi, lại bị hoạn quan ngăn trở nên
không nắm được thực quyền. Trước tình hình đó, bà Thái phi họ
Vũ (mẹ của Trịnh Giang và Trịnh Doanh) cùng với một số đại
thần như Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Công Thái tìm cách phế
Trịnh Giang, đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa.
37
Nhân lúc Hoàng Công Phụ cầm quân đánh dẹp quân nổi dậy,
Nguyễn Quý Cảnh đưa quân mình vào thay thế, lo việc giữ kinh
thành. Kiểm soát được kinh thành, Quý Cảnh xin sắc vua Lê, đưa
Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang (1740).
38
Lúc ấy, hoạn quan ở cung Thưởng Trì nghe tin, lập tức kéo quân
về Thăng Long, định diệt trừ lực lượng Quý Cảnh và ủng hộ Trịnh
Giang làm chúa như cũ. Thế nhưng lực lượng này nhanh chóng
bị đánh tan. Sau đó, Trịnh Doanh sai quân đến cung Thượng Trì
bắt giết tất cả đảng phái của Hoàng Công Phụ. Phụ lúc ấy đang ở
Văn Giang (Hưng Yên) hay tin, vội vàng bỏ trốn.
39
Sau khi nắm quyền, Trịnh Doanh sửa sang lại việc cai trị, bỏ
những quy định sai lầm mà Trịnh Giang đề ra: bỏ giám ban, dừng
việc xây cất chùa chiền và dinh thự, xem xét lại những người đã
bị kết tội trước đó và khôi phục chức tước cho những người bị bọn
gian thần hãm hại, xá tô thuế cho dân,...
40
Bên cạnh đó, Trịnh Doanh quan tâm đến việc thu phục lòng
dân. Biết nhân dân vẫn bất bình việc Trịnh Giang phế trưởng lập
thứ, chỉ năm tháng sau khi lên ngôi chúa, Trịnh Doanh ép vua Lê
Ý Tông nhường ngôi cho Lê Duy Diêu, tức vua Lê Hiển Tông. Ý
Tông được tôn lên làm Thái Thượng hoàng.
41
Tuy thế, Trịnh Doanh không cứu vãn được sự suy sụp
ở Đàng Ngoài. Nạn đói xảy ra liên tục trong nhiều năm
và trở nên nghiêm trọng vào năm 1741. Sách Đại Việt
sử ký chép: “dân đói dắt nhau đi ăn xin đầy đường. Giá gạo
tăng vọt, một trăm quan tiền không đổi được bữa no. Dân
phần nhiều ăn rau, khoai, đến nỗi có người ăn thịt rắn, thịt
chuột cho qua ngày. Bệnh tật cả phát, xác chết chồng
lên nhau, xương trắng đầy đồng. Số người sống
sót không được một phần mười, khói bếp tiêu
điều lạnh lẽo, những nơi sầm uất thành ra gò
đống”. Chính vì thế, người tham gia các cuộc
nổi dậy ngày càng tăng.
42
Trước tình hình đó, Trịnh Doanh phải dựa vào lính Thanh Nghệ
vốn được các chúa Trịnh tin dùng để tăng cường đàn áp. Ở vùng
Thanh Nghệ, cứ ba dân đinh chọn lấy một người làm lính. Trước
đây, các chúa Trịnh đã ban cho lính Thanh Nghệ nhiều ưu quyền,
vì thế lực lượng này thường được gọi là ưu binh.
43
Trịnh Doanh cho thu gom chì
(để làm đạn), diêm tiêu, lưu hoàng
(để làm thuốc súng) và ra lệnh
tịch thu một số lớn tượng Phật,
chuông, khánh ở các chùa về kinh
đô để lấy đồng đúc súng. Chúa
còn đẩy mạnh việc mua bán quan
chức để có ngân khố chi cho việc
đánh dẹp các cuộc nổi dậy.
44
Trước đây, muốn được dự kỳ thi Hương, học trò phải vượt qua
nhiều cuộc thi sát hạch. Năm 1750, để thu được nhiều tiền, Trịnh
Doanh cho phép ai nộp ba quan tiền thì được vào dự thi. Vì thế,
“dân cày, nhà buôn, tên đồ tể cũng xum xoe nộp quyển đi thi.
Ngày vào trường thi, học trò giày xéo lên nhau đến nỗi có người
chết. Trong trường thi thì kẻ mang sách vào chép, kẻ mượn người
làm hộ một cách công khai. Do đó, số người đỗ
do thực học không được một phần mười”.
45
Cuộc khởi nghĩa do Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao
đứng đầu đã dấy lên ở vùng ven sông Hồng. Nghĩa quân không
xây đắp thành lũy. Họ dùng thuyền nhẹ di chuyển linh hoạt, gặp
quan quân thì xông vào chém chân người, chân ngựa. Năm 1740,
nghĩa quân tấn công Chân Ninh, huyện Nam Chân, trấn Sơn Nam
(nay thuộc Nam Định) giết quan cai trị cùng thuộc hạ.
46
Cùng lúc đó, hai anh em Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi lên
ở làng Ninh Xá (nay thuộc Hải Dương). Nguyễn Tuyển kết hợp
với nghĩa quân của Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch tạo thanh thế rất
lớn, hoạt động khắp cả vùng Đông Bắc đồng bằng sông Hồng.
47
Năm 1740, nghĩa quân tiến đánh Gia Bình (thuộc Bắc Ninh
ngày nay), giết tướng chỉ huy quân Trịnh khiến quân triều đình
bỏ chạy tán loạn. Khuếch trương chiến thắng, Nguyễn Tuyển cho
quân vượt sông Hồng, đánh chiếm hai huyện Thượng Phúc, Phú
Xuyên (thuộc Hà Nội ngày nay) nhưng ngay sau đó phải rút về.
48
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Biên soạn
LÊ VĂN NĂM
Họa sĩ
TÔ HOÀI ĐẠT
LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH
TẬP 47
HỌ TRỊNH
TRÊN ĐƯỜNG SUY VONG
N H Đ X U ẤT B Ả N T R Ẻ
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: TÔ HOÀI ĐẠT
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Họ Trịnh trên đường suy vong / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Lê Văn Năm biên soạn ;
Tô Hoài Đạt minh họa. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2011.
84 tr. : minh họa ; 20cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.47).
1. Việt Nam — Lịch sử — 1592-1788 — Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê Văn
Năm. III. Tô Hoài Đạt. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
959.70272 — dc 22
H678
LỜI GIỚI THIỆU
Thịnh suy của một triều đại là lẽ tự nhiên, dẫu cực kỳ
chói sáng như triều Lý, oanh liệt vẻ vang như triều Trần
vẫn không tránh khỏi ngày diệt vong. Triều Lý tồn tại
được hơn hai trăm năm, triều Trần được gần hai thế
kỷ. Nhà Lê đánh đuổi ngoại xâm, lại bị họ Mạc tiếm
quyền. Họ Trịnh dựng lại triều Lê, dẹp nhà Mạc, đưa
vua Lê về Thăng Long. Các chúa Trịnh nối nhau cai
quản đất nước, vua Lê không có thực quyền. Chúa Trịnh
trải qua một thời cực thịnh. Nay trong phủ chúa, hoạn
quan lộng hành, mưu quyền đoạt vị. Chính nghĩa không
mạnh, quang minh đã mờ. Họ Trịnh lâm vào con đường
suy vong.
Tập 47 của bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh giai đoạn
“Họ Trịnh trên đường suy vong” phần lời do Ngô Văn
Năm biên soạn, phần hình ảnh do Tô Hoài Đạt thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 47 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Uy Nam Vương Trịnh Giang là con trưởng của An Đô
Vương Trịnh Cương. Ông sinh năm 1711 và là vị chúa
Trịnh thứ bảy. Khi còn là Thế tử, Thái phó của ông Nguyễn Công Hãng - đã dâng mật sớ với chúa Trịnh
Cương nhận xét ông là người ươn hèn, không thể gánh
vác ngôi chúa. Trịnh Cương đã có ý định thay ngôi Thế
tử nhưng chưa thực hiện thì đã đột ngột qua đời, Trịnh
Giang lên nối ngôi.
Sau khi nối ngôi, Trịnh Giang chỉ hưởng lạc, không màng
chính sự. Trước tình hình ấy, bà thái phi họ Vũ (mẹ của
Trịnh Giang và Trịnh Doanh) đã cùng với một số đại
thần tìm cách đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa. Dù là
người tài giỏi nhưng Trịnh Doanh cũng chẳng thể cứu
vãn được sự suy tàn của họ Trịnh.
Khi vừa lên ngôi chúa, Trịnh Giang sai quan lại đến các địa
phương xem xét đời sống dân chúng, phân hạng làng xã để giảm
sưu thuế. Thấy dân chúng khổ sở, chúa nghe theo đề nghị của
Nguyễn Công Hãng, mạnh tay cho bỏ một số loại thuế quá nặng
nề như thuế thổ sản, thuế muối,...
5
Để thể hiện biết lo cho dân, muốn việc cai trị được tốt đẹp,
Trịnh Giang ra dụ cầu lời nói trung thực, lấy ý kiến các quan về
việc cai trị. Bùi Sĩ Tiêm đã chỉ ra những chỗ mục nát trong bộ
máy cai trị và nói rằng: “Nạn cầu cạnh để được chức tước là đầu
mối rối loạn kỉ cương phép nước”.
6
Bùi Sĩ Tiêm nêu ra mười điều chúa cần cấp bách thực hiện để
chỉnh đốn lại việc cai trị. Làm cho bọn bất tài vây quanh chúa
mất đi nhiều quyền lợi, quan lại phủ chúa ra sức phản bác Bùi Sĩ
Tiêm. Vì vậy, Trịnh Giang đã tước bỏ quan chức của Bùi Sĩ Tiêm
và đuổi ông về quê.
7
Khi Trịnh Cương chọn Thế tử, một số triều
thần như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuần, Đỗ
Bá Phẩm đã can gián Trịnh Cương không nên
chọn Giang. Vì thế, khi lên ngôi chúa, Giang
ra sức ám hại những người không phục mình.
Năm 1732, Trịnh Giang cho bọn tay chân thêu
dệt, vu cho Nguyễn Công Hãng các tội: chôn
cất mồ mả tổ tiên vào đất long mạch, lập sơn
trang, chiêu tập, gây dựng lực lượng âm mưu
làm phản. Trịnh Giang giáng Nguyễn Công
Hãng xuống làm Thừa chính sứ Tuyên Quang
và sau đó bức tử.
8
Năm 1736, Lê Anh Tuấn bị giáng làm Đốc trấn Lạng Sơn rồi
cũng bị giết. Sử cũ ghi lại: mọi người trong kinh ngoài trấn đều
thương tiếc vị quan có tài văn chương và tính tình trầm lặng kín
đáo này.
9
Đỗ Bá Phẩm bị đưa đi làm Tuần phủ xứ An Quảng (Quảng
Ninh ngày nay). Trịnh Giang muốn giết Đỗ Bá Phẩm nên giao
cho Tể tướng Nguyễn Hiệu tìm cách bắt tội. Nguyễn Hiệu chần
chừ nên bị Trịnh Giang giáng chức. Sau đó, Trịnh Giang bắt Đỗ
Bá Phẩm phải tự tử.
10
Trịnh Giang thường bảo với các triều thần: “Ta thường nghĩ trị
nước cốt phải xa lánh gian nịnh”. Thế nhưng, Trịnh Giang lại tin
dùng bọn hoạn quan xu nịnh. Năm 1739, Giang đặt thêm giám
ban - chỉ toàn hoạn quan ngang hàng với hai ban văn, võ. Được
thế, hoạn quan, đứng đầu là Hoàng Công Phụ, càng lộng hành,
lũng đoạn triều chính, ám hại công thần.
11
Do không ưa tính tình ngay thẳng chính
trực của Thiêm quận công Trương Nhưng
- cậu Trịnh Cương, Hoàng Công Phụ gieo
cho Trịnh Giang mối nghi ngờ Trương
Nhưng âm mưu chống lại Trịnh Giang. Vì
thế, Trịnh Giang bí mật mang thuốc độc
đến, ép buộc Trương Nhưng phải uống.
12
Ở triều đình, đang ở ngôi vua là Lê Duy Phường (con vua Lê
Dụ Tông) - con thứ của vua Lê Dụ Tông và là cháu ngoại của
Trịnh Kiểm. Để tỏ rõ uy quyền của mình, Trịnh Giang vu tội nhà
vua tư thông với phi tần của Trịnh Cương, phế làm Hôn Đức công.
13
Để chọn vua mới, Trịnh Giang cho dẫn 12 người con của Dụ
Tông đến phủ chúa để xem mặt và chọn người con trưởng là Lê
Duy Tường đưa lên ngai vàng tức Lê Thuần Tông (1732-1735).
Năm 1735, Trịnh Giang thắt cổ giết chết Lê Duy Phường.
14
Cũng năm ấy, Thuần Tông mất. Do lo sợ Lê Duy Diêu - con cả
của Thuần Tông - đã trưởng thành khó bề sai khiến, Trịnh Giang
đã chọn Lê Duy Thận - em vua Lê Thuần Tông - từ nhỏ đã được
nuôi dạy trong phủ chúa, lên nối ngôi.
15
Trong khi Giang tìm mọi cách triệt tiêu quyền
lực của vua Lê để thâu tóm quyền hành về phủ
chúa thì ở phủ chúa, Trịnh Giang để cho bọn hoạn
quan xu nịnh, đứng đầu là Hoàng Công Phụ, chi
phối ngày càng nhiều vào việc cai trị. Trịnh Tuệ
vốn có mối thân tình với Hoàng Công Phụ nên Phụ
xin với Trịnh Giang cho Tuệ đỗ đầu khoa thi Đình
năm 1736 (tương đương với Trạng Nguyên).
16
Với sự cất nhắc của Hoàng Công
Phụ, Trịnh Tuệ thăng quan tiến chức
nhanh chóng. Chỉ ba năm sau, Tuệ đã
ngoi lên chức Tể tướng. Trong triều,
Trịnh Tuệ và Hoàng Công Phụ kết bè
phái, lũng đoạn bộ máy chính quyền
trung ương của triều đình Lê - Trịnh. Sử
cũ ghi lại: “(Phạm Công Phụ và Trịnh Tuệ)
khi nắm quyền thì trong xướng ngoài họa, lũ
tiểu nhân không còn né sợ gì nữa, triều chính
phiền toái, thưởng phạt sai trái, trong nước từ
đây sinh ra lắm chuyện”.
17
Trịnh Giang rất thích âm nhạc và văn chương. Những ngày
không thiết triều, Giang mở yến tiệc trong phủ chúa để cùng các
quan văn luận bàn văn chương, xướng họa.
18
Trịnh Giang còn định ra lễ nghi rườm rà nhằm tăng vẻ long
trọng cho những việc mình làm. Giang quy định hằng ngày lúc
chúa ra coi chầu (làm việc với các quan), ban nhạc sắp hàng hai
bên phủ đường. Khi cửa phủ mở thì nhạc công bắt đầu tấu nhạc
chào mừng, khi các quan lạy xong mới dừng. Lúc Trịnh Giang
đi tuần du, mỗi lần bắt đầu hay dừng lại nghỉ ngơi, quân lính đều
phải bắn ba phát đại bác làm hiệu lệnh. Khi di chuyển, có lính
mang cờ mở đường và nhạc công tấu nhạc.
19
Năm 1736, để có nhiều thời giờ cho các cuộc truy hoan, Trịnh
Giang phong cho em ruột mình là Trịnh Doanh làm Tiết chế thủy
bộ quân, chức Thái úy, tước Ân quốc công. Trịnh Doanh mỗi
tháng ba lần hội các quan trong triều để nghe tấu trình các việc.
Còn Trịnh Giang rỗi rảnh, mặc sức ăn chơi. Có lúc Trịnh Giang
rời phủ chúa đi chơi nhiều ngày, các quan không biết tìm ở đâu.
20
Năm 1739, trong lúc đi chơi ở Quế
Trạo (huyện Quế Dương, trấn Kinh Bắc,
quê của Hoàng Công Phụ), Trịnh Giang
sai tay chân giả làm sứ nhà Thanh mang
sắc và ấn phong cho mình làm An Nam
thượng vương, ngang hàng với cả vua Lê.
21
Cũng giống cha, Trịnh Giang ham thích tuần du, xây cất tốn
kém. Vì vậy, Giang cho xây dựng chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ
ở nhiều nơi. Năm 1730, Trịnh Giang cho tu sửa chùa Quỳnh Lâm
ở xã Đông Triều, huyện Đông Triều, trấn Hải Dương (nay thuộc
tỉnh Quảng Ninh) và chùa Sùng Nghiêm ở xã Nam Giản, huyện
Chí Linh, trấn Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hải Dương).
22
Sau bốn năm, việc xây cất chùa Quỳnh Lâm vẫn chưa xong,
chúa sai: “lấy dân phu ba huyện thuộc Hải Dương phục dịch, khai
bốn đoạn sông để thông đường kéo gỗ, chở đá”. Do vậy, thường
xuyên có đến hàng vạn người làm việc cả ngày lẫn đêm, không
được nghỉ ngơi.
23
Không những thế, Trịnh Giang lại cho khởi công xây dựng chùa
Hồ Thiên trên một đỉnh núi ở huyện Bảo Lộc, trấn Kinh Bắc (nay
thuộc tỉnh Bắc Giang) và chùa Hương Hải ở xã Phủ Vệ, huyện
Chí Linh, trấn Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Lần này,
chúa cho huy động dân của bốn huyện lân cận làm công việc này
vô cùng vất vả. Cả dân vùng Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay)
xa xôi phải cung cấp gỗ lim và đá cho công trình này.
24
Cùng lúc, Trịnh Giang cho xây cất các đền, phủ vô
cùng tráng lệ tại quê ngoại ở hai xã Tử Dương, huyện
Đông Yên, thừa tuyên Sơn Nam (nay thuộc tỉnh
Hưng Yên) và My Thữ, huyện Đường Hào,
trấn Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hưng
Yên). Hoạn quan được giao
nhiệm vụ tìm mua gỗ, đá và
đốc thúc xây dựng được dịp
lũng đoạn. Chúng “đốc thúc
hà khắc, khiến nhà nông khốn
cùng, nhà buôn sạt nghiệp”.
25
Năm 1737, Trịnh Giang sai đúc tượng Phật lớn cho chùa Quỳnh
Lâm. Đồng trong kho nhà nước không đủ, Trịnh Giang bắt các
quan lại phải nộp đồng nhiều hay ít tùy phẩm tước cao thấp. Để
có đồng đem nộp, quan trên lại bắt quan dưới nộp cho mình, cuối
cùng mọi gánh nặng đổ trên vai người dân.
26
Năm 1736, để có tiền chi xài, Trịnh
Giang cho bán quan chức. Quan và
dân đều được phép nộp tiền để được
cất nhắc trao chức phẩm. Tiền càng
nhiều thì chức càng cao. “Quan lục
phẩm trở xuống, ai nộp 600 quan tiền
thì được thăng một bậc. Dân thường
nếu nộp 2800 quan thì được bổ làm
tri phủ, nộp 1800 quan thì được bổ
làm tri huyện”.
27
Có lần, Trịnh Giang bị sét đánh suýt chết. Từ đó, Trịnh Giang
đâm sợ sấm sét. Lợi dụng tâm lý này, hoạn quan do Hoàng Công
Phụ đứng đầu bày cho Trịnh Giang đào hầm tránh tai họa. Trịnh
Giang cho làm cung Thưởng Trì dưới mặt đất ở xã Hoàng Mai,
huyện Thanh Trì, Thăng Long (nay thuộc Hà Nội) để ở. Từ đấy,
Trịnh Giang không bước chân ra ngoài, hoạn quan mặc tình tác
oai tác quái.
28
Trong triều, Hoàng Công Phụ hãm hại những người chống đối
mình. Tình hình lúc bấy giờ được ghi lại: “Không ngày nào không
có đại thần bị đuổi, bị giết hay bị khiển trách. Kẻ có thù oán thì
nhân đấy tìm cách hãm hại nhau. Người bị bắt bớ thì tán gia bại
sản. Dân chúng oán hận vì bị bóc lột và thuế má nặng nề”.
29
Vì thế, cuối năm 1737, không chịu nổi áp bức, nhũng nhiễu,
người dân đã nổi lên chống lại bọn quan lại, nhất là ở vùng Thái
Nguyên, Sơn Tây. Ở các vùng này, “trộm cướp nổi lên như ong”.
Từ những cuộc nổi dậy lẻ tẻ đó, những người dân cùng khổ đã dần
tụ họp lại dưới trướng nhà sư Nguyễn Đương Hưng.
30
Nguyễn Đương Hưng đã tập hợp lực lượng
lên đến vài ngàn người, thế lực khá mạnh. Ông
xưng vương hiệu, đặt chức, lập căn cứ ở Tam
Đảo. Triều đình Lê - Trịnh phải cho đặt những
đài hỏa hiệu trên núi. Khi nghĩa quân tiến đánh
nơi nào thì quân lính trên đài phải đốt lửa báo
hiệu cho các nơi khác biết để nhanh chóng
đem quân cứu viện.
31
Dân chúng trong thành Thăng Long nghe về cuộc khởi nghĩa
rất hoảng sợ. Người thì dắt díu nhau ra khỏi kinh thành lánh nạn,
người thì đào hầm chôn giấu của cải, trữ lương khô phòng lúc
quân khởi nghĩa đánh vào Thăng Long. Tuy nhiên, triều đình Lê
- Trịnh nhanh chóng trấn áp được cuộc khởi nghĩa của Nguyễn
Đương Hưng.
32
Ở kinh đô, nhiều tôn thất nhà Lê căm giận việc
họ Trịnh lấn áp vua Lê nên ngấm ngầm tìm cách
chống Trịnh. Lê Duy Mật, Lê Duy Quy (con vua Lê
Dụ Tông) cùng với chú là Lê Duy Chúc (con vua Lê
Hy Tông) mưu tính nổi dậy, diệt trừ họ Trịnh. Âm
mưu bị lộ, các triều thần tham gia đều bị bắt, Duy
Mật, Duy Quy, Duy Chúc chạy vào Thanh Hóa. Ít
lâu sau, Duy Quy, Duy Chúc lâm bệnh nặng qua đời.
33
Thấy tình hình ngày một bất ổn, Trịnh Giang cho tăng cường
lực lượng binh lính, tìm bắt lính đào ngũ, bắt thêm lính mới, củng
cố lại dân binh ở các làng xã.
34
Chúa Trịnh ra lệnh các xã cứ mười dân đinh thì chọn lấy bảy,
tự sắm lấy đồ binh khí, lập điếm canh để canh phòng. Lực lượng
của bốn - năm xã đông dân hoặc sáu - bảy xã ít dân địa thế tiếp
giáp nhau đặt dưới quyền chỉ huy của một quan chức cấp huyện.
Tuy nhiên, biện pháp này không đem đến kết quả như mong muốn.
Dân chúng được tích trữ binh khí nên dễ dàng nổi lên chống lại
quan lại, triều đình. Các cuộc nổi dậy không những không giảm
đi mà trái lại lại càng gia tăng. Cho nên, không bao lâu sau, phép
này phải bãi bỏ.
35
Các cuộc nổi dậy của nông dân lan tràn khắp nơi và ngày một
lớn mạnh. Đến giữa năm 1739, tình hình Đàng Ngoài rối loạn:
“miền núi, nơi biên viễn, trộm cướp nhóm họp” còn ở “bốn trấn
bên trong, giặc giã cũng nổi dậy khắp nơi”. Nhiều cuộc khởi nghĩa
với hàng nghìn, hàng vạn dân nghèo tham gia như: cuộc khởi
nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở Ninh Xá (nay thuộc Hải
Dương), Hoàng Công Chất ở Sơn Nam (nay thuộc Hưng Yên),
Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch (nay thuộc Hải Dương),...
36
Trong khi đó tại phủ chúa, Trịnh Doanh thay anh trông coi
việc triều chính, nhưng vì nhỏ tuổi, lại bị hoạn quan ngăn trở nên
không nắm được thực quyền. Trước tình hình đó, bà Thái phi họ
Vũ (mẹ của Trịnh Giang và Trịnh Doanh) cùng với một số đại
thần như Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Công Thái tìm cách phế
Trịnh Giang, đưa Trịnh Doanh lên ngôi chúa.
37
Nhân lúc Hoàng Công Phụ cầm quân đánh dẹp quân nổi dậy,
Nguyễn Quý Cảnh đưa quân mình vào thay thế, lo việc giữ kinh
thành. Kiểm soát được kinh thành, Quý Cảnh xin sắc vua Lê, đưa
Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang (1740).
38
Lúc ấy, hoạn quan ở cung Thưởng Trì nghe tin, lập tức kéo quân
về Thăng Long, định diệt trừ lực lượng Quý Cảnh và ủng hộ Trịnh
Giang làm chúa như cũ. Thế nhưng lực lượng này nhanh chóng
bị đánh tan. Sau đó, Trịnh Doanh sai quân đến cung Thượng Trì
bắt giết tất cả đảng phái của Hoàng Công Phụ. Phụ lúc ấy đang ở
Văn Giang (Hưng Yên) hay tin, vội vàng bỏ trốn.
39
Sau khi nắm quyền, Trịnh Doanh sửa sang lại việc cai trị, bỏ
những quy định sai lầm mà Trịnh Giang đề ra: bỏ giám ban, dừng
việc xây cất chùa chiền và dinh thự, xem xét lại những người đã
bị kết tội trước đó và khôi phục chức tước cho những người bị bọn
gian thần hãm hại, xá tô thuế cho dân,...
40
Bên cạnh đó, Trịnh Doanh quan tâm đến việc thu phục lòng
dân. Biết nhân dân vẫn bất bình việc Trịnh Giang phế trưởng lập
thứ, chỉ năm tháng sau khi lên ngôi chúa, Trịnh Doanh ép vua Lê
Ý Tông nhường ngôi cho Lê Duy Diêu, tức vua Lê Hiển Tông. Ý
Tông được tôn lên làm Thái Thượng hoàng.
41
Tuy thế, Trịnh Doanh không cứu vãn được sự suy sụp
ở Đàng Ngoài. Nạn đói xảy ra liên tục trong nhiều năm
và trở nên nghiêm trọng vào năm 1741. Sách Đại Việt
sử ký chép: “dân đói dắt nhau đi ăn xin đầy đường. Giá gạo
tăng vọt, một trăm quan tiền không đổi được bữa no. Dân
phần nhiều ăn rau, khoai, đến nỗi có người ăn thịt rắn, thịt
chuột cho qua ngày. Bệnh tật cả phát, xác chết chồng
lên nhau, xương trắng đầy đồng. Số người sống
sót không được một phần mười, khói bếp tiêu
điều lạnh lẽo, những nơi sầm uất thành ra gò
đống”. Chính vì thế, người tham gia các cuộc
nổi dậy ngày càng tăng.
42
Trước tình hình đó, Trịnh Doanh phải dựa vào lính Thanh Nghệ
vốn được các chúa Trịnh tin dùng để tăng cường đàn áp. Ở vùng
Thanh Nghệ, cứ ba dân đinh chọn lấy một người làm lính. Trước
đây, các chúa Trịnh đã ban cho lính Thanh Nghệ nhiều ưu quyền,
vì thế lực lượng này thường được gọi là ưu binh.
43
Trịnh Doanh cho thu gom chì
(để làm đạn), diêm tiêu, lưu hoàng
(để làm thuốc súng) và ra lệnh
tịch thu một số lớn tượng Phật,
chuông, khánh ở các chùa về kinh
đô để lấy đồng đúc súng. Chúa
còn đẩy mạnh việc mua bán quan
chức để có ngân khố chi cho việc
đánh dẹp các cuộc nổi dậy.
44
Trước đây, muốn được dự kỳ thi Hương, học trò phải vượt qua
nhiều cuộc thi sát hạch. Năm 1750, để thu được nhiều tiền, Trịnh
Doanh cho phép ai nộp ba quan tiền thì được vào dự thi. Vì thế,
“dân cày, nhà buôn, tên đồ tể cũng xum xoe nộp quyển đi thi.
Ngày vào trường thi, học trò giày xéo lên nhau đến nỗi có người
chết. Trong trường thi thì kẻ mang sách vào chép, kẻ mượn người
làm hộ một cách công khai. Do đó, số người đỗ
do thực học không được một phần mười”.
45
Cuộc khởi nghĩa do Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao
đứng đầu đã dấy lên ở vùng ven sông Hồng. Nghĩa quân không
xây đắp thành lũy. Họ dùng thuyền nhẹ di chuyển linh hoạt, gặp
quan quân thì xông vào chém chân người, chân ngựa. Năm 1740,
nghĩa quân tấn công Chân Ninh, huyện Nam Chân, trấn Sơn Nam
(nay thuộc Nam Định) giết quan cai trị cùng thuộc hạ.
46
Cùng lúc đó, hai anh em Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ nổi lên
ở làng Ninh Xá (nay thuộc Hải Dương). Nguyễn Tuyển kết hợp
với nghĩa quân của Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch tạo thanh thế rất
lớn, hoạt động khắp cả vùng Đông Bắc đồng bằng sông Hồng.
47
Năm 1740, nghĩa quân tiến đánh Gia Bình (thuộc Bắc Ninh
ngày nay), giết tướng chỉ huy quân Trịnh khiến quân triều đình
bỏ chạy tán loạn. Khuếch trương chiến thắng, Nguyễn Tuyển cho
quân vượt sông Hồng, đánh chiếm hai huyện Thượng Phúc, Phú
Xuyên (thuộc Hà Nội ngày nay) nhưng ngay sau đó phải rút về.
48
 






