CA KHÚC HÀNH KHÚC NGƯỜI LÁI ĐÒ

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z4999043462983_2be1d887d99d54bb6aa1f2b7ee9bc046.jpg Z4900493151502_f26fdb80fb60695ce1f9714d622cdf91.jpg

    BÁC HỒ VỚI GIÁO DỤC

    CHA MẸ THÔNG THÁI

    web-share" allowfullscreen>

    LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3

    CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Cạm bẫy người

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:00' 09-03-2024
    Dung lượng: 758.9 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Cạm bẫy người
    Vũ Trọng Phụng


    Nhà xuất bản Văn học 2006
    Chuyển text và tạo ebook: Caruri
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com




    Mục lục

    I Ông thân tôi là “mòng”
    II Ông quân sư của bạc bịp
    III Đố anh nào bịt mắt được tôi
    IV Ba nhân vật
    V Bốn đồng ngửa sấp
    VI Ruột quân xúc xắc
    VII Xưởng chế tạo khí giới
    VIII Những thủ đoạn ngoài chương trình b…
    IX Một cuộc vận động tự trị
    X Canh tài bàn… tay tư
    XI Tấm lòng đi bịp, từ nay xin chừa
    XII Nạn kinh tế, sở liêm phóng với ông ấm B…
    XIII Cái “lưới nhện”
    XIV Kẻ ở người về




    I
    Ông thân tôi là “mòng”

    Nụ cười vẫn thường lộ trên cặp môi đỏ tựa thoa son, anh Vân bỗng ủ dột,
    muốn như có vẻ chán đời.
    Do lẽ gì, cái thái độ trái ngược như vậy? Vì ông thân anh, một cụ phán
    thượng hạng đã về hưu, hưu bổng hàng tháng rất to, với bà mẫu anh, một
    người mẹ đảm, đã một tay tậu nổi mấy toà nhà lộng lẫy mà không để cho
    anh được tự do tiêu, phá chăng? Vì ý trung nhân của anh, một cô gái tân thời
    óc chứa đầy những tình cảm đã phụ anh chăng? Hay vì mảnh bằng tốt nghiệp
    của trường cao đẳng thương mại chưa cho phép anh được chiếm một ghế
    ngồi trong một công sở? Lạ! Con một nhà giàu, lại sẽ là chồng một mĩ nhân,
    địa vị như thế, tại sao anh Vân lại chán đời? Cái buồn của anh chàng này
    chắc có chứa sự bí mật gì đây…
    *
    * *
    Chiều hôm ấy, anh Vân ghé vào tai tôi:
    - Tôi đã đỡ được nỗi chán đời vì đã tìm ra được cách mở két của ông cụ.
    Tôi mới có được một mẻng rất đáng yêu cả tinh thần lẫn xác thịt nhưng phải
    cái hơi đáng giận là có cái đức lớn trong sự tiêu tiền.
    Tôi rất lấy làm phàn nàn về điều đó, nhưng biết làm thế nào? Phụ nữ bây
    giờ hầu hết thế cả! Tình thế này ép tôi phải tính… Đáng lẽ tôi cũng không
    dùng đến kế này, vì nó bất lịch sự quá, nhưng anh tính: ông cụ đưa tiền cho
    mình tiêu thì tỏ ý xót xa mà đến khi ngồi vào đám bạc, hết trăm này đến
    chục khác chẳng lấy làm tiếc, anh bảo thế thì còn gì ức cho mình hơn?
    Nói tới đó, anh ngắt câu chuyện, đưa ra cho tôi một lá thư còn ngỏ.
    Ngoài bì đề:
    Monsieur Ấm B…
    [1]
    N… Ruelle des poissons, Hanoi
    Còn trong thư:

    Bắc Ninh, le 26 février 1933

    [2]

    Thưa ngài,
    Cùng nhau gắn bó đã bao nhiêu lần, tôi vẫn để ý mãi, nay thật đến lúc
    phải phiền ngài rồi đây. Mong ngài xếp cho một người có vẻ ông tham, ông
    phán, đúng chiều thứ bảy sang bên tôi có hàng. Chính ông thân tôi là mòng,
    chắc chắn lắm! Còn nhiều két khác nữa, nhưng tôi chưa dám cam đoan vội,
    vì chưa xếp xong. Chỉ cần người chơi tổ tôm, tài bàn giỏi thôi, không dùng
    đến bát, đĩa gì cả. Đáng lẽ tôi phải “thân hành” sang cầu cứu song bận thu
    xếp, phải dùng chữ thay người, có điều đường đột, ngài cũng xá đi cho. Và
    xin báo trước bằng thơ, nói rõ hình dạng người mà ngài phái sang, để chúng
    tôi ra ga đón cho tiện. Xin nhớ: chúng tôi ở phố Tiền An, số nhà…
    Kính thư
    Vân
    Xem xong, bốn mắt gặp nhau, tôi cố nhịn cười:
    - Anh gọi bịp về bắt ông cụ đấy à? Gớm! Có hiếu nhỉ!
    Anh Vân chỉ mỉm cười một cách khoái chí rồi lấy hồ dán kín phong thư.
    *
    * *
    Hai hôm sau. Trên con đường chạy ra ga Bắc Ninh với hai dãy cây um
    tùm đứng giàn hai bên, một chiếc ô tô hàng đứng chờ, mấy cái xe cao su
    lượn nghênh ngang, lùng khách. Anh Vân rảo bước đi bên tôi, cầm một lá
    thư lẩm nhẩm: “Đúng 6 giờ chiều, ở ga xuống, người nào mặc ta, cầm máy
    ảnh, mặc cả xe đến phố Tiền An là đích đấy…”
    Đúng 6 giờ. Một hồi còi… Mười toa tàu lù lù tiến đến sân ga, nhả ra độ
    mười hành khách. Có người gọi vợ, gọi con, mặc cả xe om sòm, có người bị
    phu xe túm bâu lấy mà chỉ biết kêu rối rít: “Không, không!…” Bỗng có một
    giọng dõng dạc, to hơn hết, nổi lên trong đám khách ồn ào:
    - Chúng mày, thằng nào biết, mau kéo tao đến phố Tiền An, nhà cụ…
    - Đây rồi…!
    [3]
    - Phải, đích người này rồi. Áo gấm trong, áo sa tanh ngoài, giày ban ,
    tay có cầm máy ảnh. Răng vàng hé lộ mỗi khi cười lệch miệng, kính đồi mồi
    nằm trên sống mũi dọc dừa nghiêm trang. Mặt láu lỉnh ra phết ăn người.

    Ba chúng tôi bắt tay nhau. Anh Vân pha trò mà giới thiệu:
    - Đây là chú nó… còn ngài này… “ân nhân” của tôi!
    Ông ân nhân của tôi ấy là ông đến giết bố nó để cứu con, mấy phút sau,
    [4]
    được anh Vân rước về nhà kêu rầm lên: “Thưa thầy, thưa đẻ, có bác tham
    Ngọc vốn là bạn cũ sang chơi với con” thì được cả nhà đón chào mừng rỡ.
    Nhất là lại được ông cụ già đạo mạo tiếp đãi ân cần, tự đem thân ra đóng cái
    vai con chim mòng đậu vừa đúng tầm súng cho kẻ đi săn.
    Cuộc gặp gỡ của chủ với khách bắt đầu gắn bó bằng một bữa cơm bề bộn
    những thịnh soạn. Trong bữa tiệc kéo luôn hai tiếng đồng hồ, người ta nói
    [5]
    đến những chuyện giời nắng, giời mưa, nạn khủng hoảng , cuộc chiến
    tranh Trung – Nhật, việc nhà nước thi hành chính sách tiết kiệm rút lương,
    thải bớt người làm. Ông “tham Ngọc” của anh Vân ăn nói ôn tồn, đóng cái
    vai kịch của mình một cách thạo lắm. Ông hết bàn luận về đạo nghị định
    [6]
    ngày 6 Octobre 1931 lại làm ra mặt học rộng, đả động đến cả bộ “mặt
    [7]
    trái” của hội Quốc Liên . Có khi ông tự giới thiệu: chỉ ham đọc sách và
    gặp dịp nhàn thì chỉ du ngoạn những phong cảnh đẹp chớ ít khi để ý đến sự
    chơi bời.
    Thấy con người giỏi mà nết na như vậy, cụ phán khâm phục ông ra mặt,
    ngợi khen mãi ông là người hữu ích, chẳng lêu lổng như em Vân. Rồi cụ
    cười khà khà:
    - Dù bác không chơi bời gì thì tổ tôm, tài bàn cũng phải biết chứ?
    Nụ cười vẫn giữ trên môi, ông “tham Ngọc” thong thả đáp lại:
    - Bẩm vâng! Ngoài sự đọc sách với chơi ảnh ra, con cũng chẳng còn cách
    gì giải trí nữa. Đi hát ả đào hay rượu chè, hút xách thì tai hoạ, mà giai gái thì
    bẩm… chúng con đã quá tuổi rồi! Vả lại tổ tôm, tài bàn là cái chơi thanh
    nhã, khác nào như cuộc đấu trí. Con cho đó là một cách giải trí lịch sự mà
    người thượng lưu cần phải biết.
    [8]
    Thiết tưởng một phạm nhân can tội giết người mà được trạng sư cãi
    cho trắng án cũng vị tất đã có lòng kính phục, ngưỡng mộ, nhớ ơn ông thầy
    cãi của mình như cụ phán của tôi kính phục, ngưỡng mộ, nhớ ơn ông “trạng
    sư của tài bàn, tổ tôm” lúc ấy. Đánh trúng vào chỗ yếu của ông cụ rồi, tay
    bịp già đã thèm nhận những lời ân cần mời mọc vào cuộc tài bàn ngay cho

    đâu!
    - Bẩm con định sang hầu cụ với thăm anh Vân con rồi nhân tiện đi chụp
    ít ảnh vì cảnh những đồi Lim đẹp đã có tiếng… chứ không nghĩ đến sự sang
    đây lại được cụ ép đánh tài bàn!
    Cụ phán cố phân trần cho ra lẽ:
    - Nhưng còn cả ngày mai thì bác ngại gì? Tôi chỉ sợ bác chả đem nổi vài
    vạn tấm kính sáng mà chụp cho xuể thôi.
    Thế là thành cuộc. Bốn vai trò: ông “tham Ngọc” người đi săn, anh Vân
    người hướng đạo, ông thân sinh ra anh, chim mòng, với tôi, một người tò
    mò, đi xem. Tôi rất lấy làm lạ vì cứ thấy vai con chim mòng thắng trận, ù
    tràn đi mà nhà đi săn kia đã phí gần hai mươi viên đạn. Chính anh Vân cũng
    hơi tái mặt, chỉ sợ người mình lôi về chưa hẳn là thiện xạ, có bao nhiêu lại
    đến chui hết cả vào két của ông cụ thì…
    Làm ra bộ thua cay, nóng tiết, đang đánh một, hai, ba đồng, ông “tham
    Ngọc” rủ đánh gấp đôi.
    - Thưa cụ, đánh nhỏ con lại hay thua, có đánh to mới cao được.
    Gặp hồi đỏ, ông cụ hăng hái như đang say rượu nhận lời liền! Thế là từ
    lúc đánh hai, bốn, sáu đồng, ông cụ năm thì mười hoạ mới được một ván ù
    [9]
    suông. Ù tài bàn, sửu bàn chỉ riêng về ông “tham Ngọc”.
    Thấy số giấy bạc trước mặt, trong túi mình cứ lần lượt chui ra rồi bay đi
    với gió, moi ví mãi nóng tiết, ông già thỉnh thoảng lại làm ván ké một “rồng
    [10]
    xanh”
    . Nhưng bao nhiêu cũng đều “giá vũ đằng vân” đi đâu mất cả!
    Cái ví lép kẹp của ông già giục cả làng tan chầu, đứng lên:
    - Thôi, mời bác lên gác đi nghỉ với em. Bác đỏ và đánh cao quá, thật số
    bác hôm nay phát tài. Tôi thua dễ đến hơn sáu chục!…
    Ông cụ “tuy không ăn ớt mà cay” nhưng vẫn vui vẻ như thường, vẫn
    thản nhiên, lộ cái vẻ yêu con người đã lịch thiệp lại có biệt tài, đánh tài bàn
    cao.
    Còn tôi, tuy tò mò ngồi để ý mất cả buổi tối, cũng không sao khám phá
    nổi những ngón bịp! Vậy “mặt mũi” những ngón bịp thế nào?
    *
    * *

    Trên gác riêng của anh Vân, giữa lúc chia tiền.
    - Vốn tôi đem sang: mười lăm đồng, vốn bác: năm đồng, mà đây tám
    mươi ba tất cả, thế là cụ bị mất đứt 63 đồng. Đáng lẽ ta chia ba, ông ấm B…
    ở Hà Nội với tôi hai, còn bác một. Nghĩa là cả ba đạo binh cùng hưởng: đoàn
    hướng đạo, đoàn quân thắng trận với bộ tham mưu. Nhưng mòng là cụ nhà
    bác thì bác cứ cầm bốn mươi của. Anh em chúng tôi chỉ dùng 23 hòn đạn là
    đủ rồi.
    Trước cái thái độ nhã nhặn và biết điều này, anh Vân đáp bằng cái gật
    đầu, chìa tay ra nhận và nói:
    [11]
    - Để lần sau bác sang, tôi gọi cho mấy via
    nữa đến, rồi ta lại sẽ có
    dịp được chia hương hoả với nhau. Nhưng tôi muốn bác cho xem qua các
    ngón để sau này mà tránh…
    Nhà đi săn cười. Một cuộc phấn đấu chốc lát trong óc anh chàng: bí mật
    nhà nghề, có nên? Hay không?
    Sau một lúc lưỡng lự, “ông tham” có ý lấy chúng tôi làm chỗ đồng chí,
    cũng chẳng phải ngại gì. Chúng tôi ngồi nghe như hai cậu học trò trước một
    giáo sư dạy khoa quỷ thuật.
    - Có ba lối tài bàn. Thứ nhất: lối đánh kiệu hay là nhị cập nhất, hai người
    thông lưng nhau hại một người bằng những luật nhất định như để tay vào
    đùi, vào gối, ống chân, bàn chân tuỳ theo quân chờ về hàng văn, hàng sách,
    hàng vạn… Muốn ăn quân gì hoặc chờ quân gì, cứ việc ra hiệu để bên kia để
    ý đánh cho mà ăn hoặc hạ ù. Nhưng đó chỉ là phương pháp của các bịp non,
    dễ lộ tẩy, nếu người ta nghi hoặc, khám bài thấy rõ sự đánh tầm bậy, gian lận
    thì nguy. Lối ấy không xứng đáng, tôi không thèm dùng.
    Thứ nhì: hụt nọc. Lối chơi này cần mĩ thuật lắm, người đánh phải có cả
    tài lẫn gan. Bắt cái xong, mình phải cầm lấy bài nọc vờ chang đi mấy lớp.
    Thế là vài ba quân đã theo cái chang chui lọt, nằm gọn trong tay áo mình rồi.
    Đến lúc lên bài, phải xoay đi cho phu nào vào phu ấy, lưng nào vào lưng ấy,
    Thừa quân thì dễ ù lắm. Nếu ù… hạ bài xong cứ để mặc làng khám cho kĩ.
    Xong đâu đấy, gạt cả ra một góc chiếu cho người chia bài… là mấy “quân
    bài trốn thẻ” trong tay áo đã thừa cơ chui tọt ra, theo cái lúc “hỗn quân hỗn
    quan”, hợp với bọn lính thắng trận về cổng khải hoàn. Muốn đề phòng sự
    làng nghi ngờ, thấy mình ù nhiều mà điểm lại bài nọc, bài rìa, thì có hai cách
    cản. Một là thấy mình hạ xong ông “bạn đồng chí” cầm ngay lấy phần nọc
    vờ tìm quân ông ta đang chờ, phàn nàn rầm lên, “gọi chó” rầm lên, ồ ạt xoá

    đi cho người kia không kịp điểm nữa. Hai là rút ở nọc lên mà ù. Quân bài
    chờ ấy lẽ tất nhiên là quân mình thụt được ở nọc từ trước đã giấu sẵn trong
    tay. Lúc xoa tay xuống nọc vờ rút nó lên thì trong lòng bàn tay phải có sẵn
    cả những quân mình đã hụt, trả vào nọc, chỉ “xách cổ” lên một quân chờ ù.
    Đến thế thì ván nào mình ù, làng có điểm bài cũng không ngại gì nữa.
    Lắm khi chơi với bọn thạo, không hụt nổi ở nọc thì mình phải dùng đến
    chước thứ ba, nghĩa là hụt vào phần bài của ông “bạn đồng chí” với mình.
    Bắt cái xong, cầm phần bài mình trong tay rồi, mình lại phải vớ lấy “phần
    bài tòng phạm” liệng trả ông bạn. Trong cái liệng rất ý tứ mà ít ai để ý ấy,
    ngón tay cái với ngón tay trỏ của mình đã “họp đảng” với nhau giữ lại vài
    quân, trập phắt vào phần mình. Thế là ông bạn cầm phần bài thiếu phải đánh
    bậy bạ cho qua cuộc, cốt sao “che mắt thế gian”.
    Ấy, chỉ có thế thôi, bịp tài bàn cũng vậy hay tổ tôm cũng vậy. Cốt nhất
    phải có bộ mặt tài tử đóng kịch, nghiễm nhiên, bệ vệ, cũng cốt nhất là ngồi
    vào một chỗ không ai ám nổi, tránh cho xa những bác chầu rìa.
    Trong cuộc giảng bài này, ông “tham” cho chúng tôi rõ cả phần thực
    hành lẫn phần lí thuyết. Nhanh như chớp, ông giở ngón có bảo trước cho biết
    mà chúng tôi chịu, không sao vớ được cái “thiên biến vạn hoá” của nhà quỷ
    thuật đại tài.
    Bữa tiệc nào cũng phải có đồ nước nên nhà bạc bịp thuật thêm một câu
    chuyện ngắn nữa để làm món đét-xe.
    Một lần, ngồi vào cuộc với hai ông khách lạ mà tôi tưởng là quých, tôi
    vờ chang bài nọc, hụt xong, để xuống đĩa thì bỗng phải giật mình lo sợ vì chỉ
    cuỗm có bốn quân mà sao phần nọc có lẽ thiếu nhiều? Đang mải ngẫm nghĩ
    thì một ông khách lạ nắm chặt lấy tay tôi. Cuống quá, đã tái cả mặt nhưng
    nhanh trí khôn, tôi cũng vội liều nắm chặt cổ tay ông ta làm cái “trả miếng”.
    Rồi chúng tôi cùng buông nhau ra để cười sằng sặc, gập đôi người lại mà
    cười. Tôi hụt bốn quân bài thì ông khách ấy cũng hụt ba quân cộng với một
    quân. Ông ta chia thừa cho phần bài của ông mà tôi thì hụt nọc! Chúng tôi
    gọi buổi ấy là ngày “anh hùng tương ngộ”, cũng là “bịp lũa” cả mà bên nọ
    còn tưởng bên kia là mòng.
    Trước mặt anh chàng dắt khách lấy hồ hòng chuyện nọ kia, mặt tiu nghỉu
    như chó bị thiến, chúng tôi vỗ vai nhau, bắt tay nhau một cách ân cần, gọi
    nhau là “tri kỉ”.


    II
    Ông quân sư của bạc bịp

    - Ông nên biết rằng: quá nửa đời người, tôi đã sống bằng nghề cờ bạc.
    Muốn sống về nghề cờ bạc, phải có cách trừ khử những cái đáng nơm nớp lo
    ngại là cái đỏ cái đen… Hiện nay anh em tôn tôi là… trùm đảng bạc bịp.
    Trước khi lên được địa vị này, tôi cũng đã lắm phen phải đóng những vai trò
    mòng với quých cho một lũ bạc bịp tiền bối họ móc xé ruột gan đấy, ông ạ.
    Những lúc thất cơ lỡ vận trước là vốn buôn cho tôi được hưởng cái lãi là cái
    địa vị… bây giờ.
    Người đang kể tiểu sử của mình ra cho tôi với anh Vân nghe chính là ông
    ấm B… ở ngõ Hàng Cá. Trong gian phòng gác mà cách bày biện đủ tỏ rằng
    chủ nhân cũng là hạng người thiệp đời, lịch sự, chúng tôi đã được ông trùm
    tiếp một cách nhã nhặn mà lại được cả dịp đón nhặt tài liệu cho cuộc phỏng
    vấn ngẫu nhiên đây.
    Những người chỉ nghe danh mà không biết mặt ắt phải tưởng tượng rằng
    đến hạng người đáo để này thì từ nét mặt, giọng nói, dáng đi cho đến tà áo,
    gấu quần, tất nhiên cái gì cũng phải có vẻ bịp cả! Trái lại, ông ta là người
    [12]
    trông đẫy đà, bệ vệ như một ông hậu bổ hoặc một viên tri châu
    nào. Hai
    con mắt rất sắc sảo, có đủ vẻ đối địch với đời, tiểu nhân cũng được mà quân
    tử cũng được. Miệng nói có duyên một cách lạ, thường hay mỉm cười để “giá
    trị” cho câu chuyện: nhất là những lúc gọi đến thằng nhỏ thì tiếng đồng sang
    sảng, thật là có giọng quan!
    Chúng tôi họp mặt nhau mới độ một giờ mà trong câu chuyện đã thấy
    ngay cái không khí nồng nàn, tri kỉ. Được dễ thân như thế là vì có anh Vân,
    người cùng đi với tôi để thăm ông ấm, trước nay đã làm “chim mồi” cho ông
    để săn các bạn già cụ phán bên tỉnh Bắc cùng những tín đồ của “đổ bác giáo”
    bao nhiêu lần rồi.
    Vì vậy, ông ấm mới chẳng ngại kể lể tâm sự và nói rõ cả những bí mật
    nhà nghề đáng giấu kín cho chúng tôi nghe. Nhưng trước khi cho biết những
    cái “vành ngoài vành trong”, ông hãy làm trạng sư cho ông, cho địa vị xã hội
    của ông, và cho cái nghề không có môn bài của ông đã.
    - Tại sao tôi, dòng dõi gia thế, lại làm đến cái nghề… bất nhã này? Thưa

    ông, nếu tôi có thật không ra gì thì cái đó cũng chẳng phải lỗi tự tôi, tôi đã bị
    hại về hoàn cảnh xấu của xã hội. Nhưng tôi chỉ tự trách mình và vẫn nên tự
    trách xã hội. Sống ở cái xã hội cờ bạc, tôi chỉ biết rằng tôi đã là kẻ rong chơi
    bài bạc tự lúc thiếu thời. Tôi đã thua vì đỏ đen, tôi lại còn thua vì bịp nữa!
    Tôi đã phải xa gia đình vì phá tan cơ nghiệp, tôi đã khốn khổ, ê trệ – ê trệ
    nhiều phen lắm, hai ông ạ – cho nên chính ngày nay là ngày tôi đang trả thù
    cái bọn đã làm tôi hư hỏng, đã ngăn rào mọi đường công danh tiến thủ của
    tôi. Đó có là công lí không? Tôi tưởng: làm việc thiện để đền ơn việc thiện,
    lấy việc ác để trả nghĩa việc ác, thế mới là biết sống ở đời… Nói cho cùng,
    tôi cũng vui vì đã làm, đang làm, sau này nữa cũng vẫn cứ làm, cái nghề bất
    lương, cái nghề tôi cho là phải. Tôi chỉ buồn có một nỗi: không theo đuổi nổi
    sự nghiệp của ông cụ nhà tôi…
    Đến đây, ông ấm ngừng lại, có vẻ buồn rầu. Ông có ý chờ một câu phê
    phán. Tôi vội phải lộ sự tôi hiểu ý một cách kín đáo là đưa mắt nhìn cái ảnh
    lớn trong một khung vàng chói một ông cụ đi hia, mặc áo rồng, đội mũ cánh
    chuồn từ một chỗ trịnh trọng giữa bàn thờ nhìn một cách nghiêm khắc xuống
    lũ chúng tôi. Cử chỉ ấy có lẽ khiến ông ấm được một vài phút tự kiêu, nên lại
    vui lòng:
    - Vậy các ông coi cờ bạc là hạng thế nào? Tâm lí họ ra sao? Họ khôn hay
    họ dại đấy?… Hai chữ khôn với dại trong sự bài bạc không có nghĩa nhất
    định. Nếu ông thua để vợ con phải nheo nhóc, thiên hạ sẽ đua nhau chê ông
    là dại thật đấy, nhưng nếu ông được tiền nghìn bạc vạn để tậu nhà tậu ruộng,
    thiên hạ họ lại xô nhau vỗ tay, ca tụng ông là khôn! Những anh cờ bạc toàn
    là những anh – xin lỗi các ông – những anh… “khôn sặc máu mồm” ra cả
    đấy, chứ các ông bảo họ dại cái nỗi gì? Tôi đây, tôi đã là một thằng dại mãi
    rồi mà tôi lại cứ muốn cầu cái khôn trong cái dại, nên mới phải tìm một cách
    “bảo hiểm” cho sự khôn!
    Ông ấm cả cười. Chúng tôi cũng cười. Sau ông tiếp nốt (từ đây trở đi, tài
    hùng biện của ông mỗi lúc một tăng):
    - Thế các ông coi cái nghề của tôi bằng con mắt thản nhiên hay bằng con
    mắt khinh bỉ? Các ông nên biết: tuy là bịp, tôi vẫn không làm một việc nhỏ
    mọn gì là bất nghĩa cả. Trong đám bạc, người đời đã chỉ những muốn ăn thịt
    lẫn nhau cả, thì dù có bất nghĩa, tôi cũng chỉ bất nghĩa với một bọn bất
    nghĩa, chứ những người hiền lành không tham lam, không muốn ăn thịt ai
    cả, có khi nào đến nỗi bị chúng tôi hại đâu?
    Xem ý anh Vân lại được hài lòng, vui sướng hơn cả ông ấm B… vì “bài

    cãi” ấy. Rồi anh nối lời thuyết mãi, thuyết mãi… về cái nghĩa chính danh của
    sự bất nghĩa ở thời buổi vật chất, kim tiền này.
    Buổi nói chuyện kéo đến lượt hò đun nước thứ ba. Chúng tôi phải đứng
    lên, xin cáo từ. Lời nói cuối cùng của ông ấm B… là một câu phàn nàn về
    nạn kinh tế, về nỗi mòng, két mỗi ngày một hiếm, không được mùa săn. Ông
    ta dặn chúng tôi nên rất để ý vào sự tìm đất để làm tiền.
    Lời dặn ấy làm cho tôi phải nghĩ ngợi mãi? Vì sao? Vì nếu đối với ông
    ta, tôi không có mòng, sẽ bị coi là đồ vô tích sự, và sẽ mất dịp đi lại với ông
    về sau. Thành thử ở vào trường hợp ấy, tôi rất thèm thuồng ham muốn địa vị
    của anh Vân. Anh Vân tuy chưa có gan dắt bịp đến bắt các anh em bạn thân,
    song anh ta cũng còn may vì có được một ông thân sinh ham mê tiền bạc. Và
    mấy ông tóc bạc, bạn của ông cụ ấy nữa. Chỗ để đào tiền đã có sẵn, anh ta
    lại sẵn cả chỗ để ném tiền đi: những mẻng! Còn tôi, tuy có nhiều bạn thân
    ham mê bài bạc thật, nhưng không nỡ dắt bịp đến bắt, lại không có nổi lấy
    một ông bố có máu mê ấy nên không biết liệu phải đối phó với ông ấm B…
    bằng cách nào…
    Tưởng chỉ còn cái kế cuối cùng là sự hẹn lần vậy. Có khi mình hẹn lần vì
    bất đắc dĩ mà người ta lại nhầm mình là hạng người cẩn thận, kín đáo, chắc
    chắn cũng không biết chừng. Vả lại, trước khi nhúng tay vào một việc có thể
    phạm tới danh dự của mình chút ít, dễ thường cứ bắt người ta nhắm mắt mà
    làm liều, không cho có ngày được rõ diện mạo, tính tình nhân cách và mọi
    cử chỉ của từng viên chức trong “bộ tham mưu” ư?
    Cái ngày mà tôi được rõ mọi việc cũng không xa. May quá, nó đến trước
    khi tôi phải hẹn lần.
    *
    * *
    Cái lịch trên tường phô ra hai con số: 30. Gian phòng gác ở phố Hàng
    Cá, vào những ngày cuối tháng như ngày này, có cái vẻ nhộn nhịp của một
    toà tham mưu giữa lúc hai bên quân đương giao chiến với nhau thật kịch liệt.
    Vừa phần vì lẽ “năng tới coi thường”, vừa phần hai bên đã coi nhau là
    thân mật, ông ấm để mặc chúng tôi mỗi anh ngồi chầu một chén nước nóng
    còn mình thì một tay đỡ lấy trán, tay kia bấm đốt, tính lẩm bẩm như một thầy
    bói lấy số tử vi: “… Hai đám xì một đám bất, một đám xóc đĩa và một đám
    tổ tôm. Đám xì ở Hàng Kèn đã có Ba Mỹ Ký với Bập đánh giác… đám xì
    đường Cột Cờ đã có tay Bỉnh, tay Sính đánh đòn Vân Nam… Còn đám bất
    phố Hàng Bông đã có lão Cường hoặc đánh lớp, hoặc đánh mẫu tử. Xong

    đứt ba đám… Còn đám tổ tôm không biết nên tính thế nào? Chỗ chơi là chỗ
    đài các phong lưu mà phái Cửu Sần đi thì sợ lộ!… Ác quá, có cụ Ngọc là
    người trông có mẽ một chút thì lại mắc xuống Nam. Cẩu thật!… Còn mấy
    anh lái nâu động mả, giữa lúc giời đất này cũng về khua xóc đĩa nữa, đã nằm
    chờ sẵn như lợn cả kia thì biết cắt ai đi chọc tiết bây giờ?… Chỉ có mình,
    mình là tay khả dĩ đối thủ được với chúng thôi, thì mình lại phải cái tội đã
    loã lồ quá…
    Mấy tiếng gót giày khẽ nện vào bậc thang gác báo trước cho một người
    còn trẻ tuổi, ăn mặc ra một tay trong phái bồi, bếp, rón rén bước lên. Thấy
    chúng tôi lạ mặt, người ấy có vẻ ngần ngại, chỉ đưa mắt hỏi ông ấm chứ
    không nói gì. Ông này làm ngay một câu:
    - Thế nào?… Được, cứ tự nhiên, chỗ anh em cả.
    Người trẻ tuổi kia lộ ngay cái vẻ sung sướng ra như đang có một gánh
    nặng trên vai mà đến lúc vừa hạ được nó xuống đất. Nhưng đôi lông mày
    vẫn cau:
    - Hỏng mất cụ ạ!…
    - Thế nào mà đến nỗi hỏng? Thu xếp thế mà lại hỏng thì hỏng thế nào?
    - Tôi đã dò lão ta rất kĩ lưỡng. Thằng cha ấy nó biết rõ lối đánh giác từ
    bao giờ ấy mất rồi. Tôi gợi chuyện thì nó đã nói toạc móng heo ra, những là
    nó biết hết tất cả các lối giác mùi hay giác bóng cũng vậy, và chỉ có những
    đồ mù thì mới không biết cách khám thấy dấu, chứ cứ để nghiêng quân bài
    dưới ánh sáng đèn một tí thì anh nào đến thong manh dở cũng phải biết
    ngay! Lại còn nỗi khó khăn này: muốn bắt lão ta, phải đến tận nhà thằng
    cháu lão ta, chứ lão nhất định không đi chơi chỗ nào lạ. Tôi phải tìm cách
    “bỏ nhỏ” với thằng cháu lão và việc ấy cũng ổn rồi. Vậy thì cụ xếp cho một
    người cản nữa để tôi đánh Vân Nam vậy.
    Ông ấm ngần ngại:
    - Khốn nỗi anh mà đánh đòn Vân Nam thì tôi không lấy gì làm chắc lắm.
    Có được anh Ba Mỹ Ký thì lại trót hẹn mất với đám ở Hàng Kèn rồi. Hay là
    tối hôm nay, ta hãy đánh siệng, làng xoàng độ năm hào một cho qua buổi để
    mơn lão ấy đến trưa mai hoặc tối mai, tôi cho gọi Ba Mỹ Ký đi với anh đến
    thì thật là cứ “nhét đất thó vào lỗ mũi nó mà lấy tiền…”!
    - Không được! Lão ấy nó đang cao hứng, nếu để đến tận trưa mai hoặc
    tối mai thì từ buổi sáng sớm nó đã có thể dậy để đi cân sâm cho con nó rồi,
    mình còn hòng bắt nó lấy cái gì nữa?

    - Thế đích xác là nó có độ bao nhiêu?
    - Độ chừng sáu công

    [13]
    tất cả. Cụ phải tính ngay cho chứ mà…

    - Thôi được, cứ về đi rồi độ sáu giờ chiều lại đây lấy nốt người cản. Để
    tôi có thời giờ, nghĩ thật kĩ xem sao.
    Người trẻ tuổi ấy trước khi quay gót bước xuống thang còn liếc mắt nhìn
    trộm chúng tôi lần cuối cùng, dáng dấp vẫn lộ vẻ ngượng. Đến bây giờ, ông
    ấm mới giới thiệu:
    - Đấy, một đàn em của tôi đấy. Trước làm thầy kí cho hiệu buôn lớn, chữ
    nghĩa kể cũng khá, sau vì kinh tế nên bị loại, nay phải tạm sinh nhai về nghề
    này. Vì phải giao thiệp với hạng trếch để săn mòng, két trong đám bồi, bếp
    nên tôi bắt anh ta ăn mặc đúng lối trếch. Nếu hắn diện Âu phục vào thì các
    ông phải biết… Nói tiếng Tây nhanh làu làu. Chỉ trông mặt mà bắt hình dong
    thì nhầm to.
    Anh Vân khen:
    - Phải… gớm mưu trí của ngài kể cũng đáng sợ thật. Mà thế thì ra đàn
    em của ông toàn là những tay đáo để, ra phết cả, “chơi được” cả…
    - Thì đã hẳn!… Vào nghề này mà hiền lành thì làm ăn ra sao? Hai ông
    nên biết rằng không kể một số khá đông người, nửa là đồng nghiệp, nửa là
    đàn em của tôi, tôi còn dưới quyền sai phái độ mươi tay nữa, vào hạng nào
    cũng có, một người ít ra cũng sở trường về một vài ngón bịp và anh nào cũng
    có đặc sắc riêng. Nhất là về những cách thay hình, đổi dạng của chúng tôi…
    tôi cam đoan rằng chúng tôi không thua những nhân viên của sở Liêm
    [14]
    phóng
    . Thí dụ: ông là quých chẳng hạn. Ông là một nhà buôn, ông sẽ
    gặp một người trông thật là chủ hiệu ngồi hầu bài. Ông là một công tử nhà
    giàu, tôi sẽ để ông ngồi với một chàng trông thật ra lối con nhà phá của… và
    chưa chắc đã không có một vài cô gái mới ngồi cản đâu! Còn nếu ông là một
    viên chánh tổng, lí trưởng nào, tôi sẽ dắt cho một thầy ngăm ngăm da trâu,
    trông rõ “Đình Dù đặc”. Hoặc nếu ông là một chú trếch sộp, tất nhiên phải
    có một bác tài răng vàng, đội cái cát-két hay một ông còn nguyên búi tóc lại
    mặc áo cánh cổ cứng ngồi hầu ông chứ… biết làm thế nào?
    Ba chúng tôi vừa bật cười ầm lên, bỗng phải hãm ngay luồng điện khoái
    lạc ấy lập tức. Lại một hồi gót giày nện rõ mạnh vào thang. Chỉ nghe tiếng
    động mạnh gớm mạnh ghê như thế, ai cũng phải đoán: người sắp lên ấy sẽ là
    một người Pháp. Nhưng không phải, chỉ là một người Nhật, vì người đang

    tiến đến chúng tôi để giơ hai tay ra bắt rất ân cần ấy đã có cả cái thân thể một
    ông khổng lồ lẫn bộ quần áo Tây phương, lại đèo thêm bộ mặt một dân Nhật
    Bản. Giá ông ta thay cái mũ cát-két da hổ ấy đi để chụp vào đầu một cái mũ
    lưỡi trai có cái vòng lon kim tuyến chẳng hạn thì, sẵn có cái áo tơi bằng da
    màu cánh gián đã ngắn cộc lại thêm đai nịt rõ chặt chẽ ấy, đi nghênh ngang
    ngoài đường, ông ta có thể bắt nhiều người nhầm mình là một phi hành gia.
    [15]
    Nước da còn hồng hào với một ít râu để lối Hoa Kỳ
    của ông tỏ ra rằng
    ông chưa quá 40 tuổi.
    Sau khi chủ, khách đã phân vị đâu đấy cả, ông ấm B… quay lại nói ngay:
    - Xin giới thiệu để hai ông được biết: ông này quý danh là ông Cả Ủn,
    người giữ cái két lớn nhất cho làng b… chúng ta.
    Ông Ủn cả cười và thêm:
    - Nhưng phải cái két thủng đáy, hai ông ạ.
    Lời giới thiệu sỗ sàng của ông ấm B… đã đánh tan mọi sự giữ gìn của
    những người mới gặp nhau lần thứ nhất.
    Cho nên mới có những câu hỏi, đáp tự do sau đây:
    - Ngọc đi bao giờ mới về?
    - Chưa biết đích xác được.
    - Có phải chính bác sai hắn đến lấy thiếc đằng tôi không?
    - Phải… nhưng tôi chỉ mới bảo hắn đến lần này là lần đầu.
    - Thế mà hắn đến lần này là lần thứ hai!
    - Lần thứ hai?
    - Phải!… Hay lần trước là hắn bịa chuyện ra chứ không do bác bảo?
    - Thế lấy bao nhiêu?
    - Bốn chục.
    - Trả chưa?
    - Rồi.
    - Thế là hắn lấy để đi “ăn mảnh” đấy chứ không phải do tôi bảo đâu. Thế
    hôm vừa rồi đưa hắn bao nhiêu, bác thử hỏi xem có đúng số tiền mà tôi bảo
    hắn đến chạy đằng bác không nào…

    - Hình như nhà tôi đưa hắn 50 của thì phải. Lần sau trở đi, chính bác nên
    thân hành lại mà lấy hoặc không tiện đến, bác cho mấy chữ lại vậy… chứ tôi
    không tin các “ông tướng” ấy đâu. Thế có phải đúng bác bảo hắn lấy 50 của
    để đi Nam không?
    - Phải rồi… Được, lần sau có chữ tôi gửi lại, bác hãy đưa tiền. Và dặn cả
    bác gái như thế hộ tôi một thể.



    III
    Đố anh nào bịt mắt được tôi

    Trên tường bên kia, cái bàn thờ Thổ công có một chiếc cốc pha lê đã rạn
    thay bằng bát nhang với hai cái đài mà nước sơn đã lở làm bung mảnh ván
    choèn choèn kê lên hai cái xích đông gỗ tạp. Dưới bàn thờ là một bức tranh
    về xứ Pháp, phô hình một viên tướng cưỡi ngựa bạch trên một chỏm núi,
    cầm viễn kính chiếu xuống đồng bằng, một cảnh đồng bằng có hàng bao
    nhiêu binh mã, như một đàn kiến lửa chen chúc nhau trong những lúc tranh
    nhau đi tha mồi. Bức tranh lồng trong một cái khung sơn kim nhũ trông đã
    hơi cổ và đã có chỗ bị sứt, để lộ cả thớ gỗ. Giáp ngay với bàn thờ, có một bó
    chừng sáu xóc tôm khô treo ngay bên cạnh một bộ quần áo bi-da-ma kiểu
    [16]
    cuối cùng của hãng Lafayette
    . Lại cách bức tranh và bàn thờ, có thể lấy
    tay với ngay được, lù lù một tấm ghế ngựa mà dưới gầm có một đôi giày da
    [17]
    láng mũi liền, kiểu Richelieu
    , rộng như hai chiếc thuyền thúng bỏ quăng
    bên cạnh một chiếc chổi xể cùn!
    Gian phòng tuy chật hẹp mà ních đầy đồ đạc, cái sang cái hèn lẫn lộn
    một cách chướng mắt vô cùng này là gian phòng của một người trong làng
    trếch.
    - Xin mời ông xơi tạm chén nước.
    - Vâng, xin phép ông.
    Người trân trọng lấy hai tay bưng chén nước mời tôi uống, bác bồi An,
    chủ nhân gian phòng có cái bài trí kì lạ kể trên, thân thể tuy trông đẫy đà
    nhưng không đến nỗi thô cho lắm vì được ẩn trong bộ quần áo bảnh bao. Đôi
    lông mày rậm rạp nằm trên cặp mắt như hai chiếc đòn khiêng. Hai hàm răng
    trắng nõn như ngà. Bác đã cung kính trao cho tôi cái chén Nhật Bản to bằng
    cái bát ăn cơm, đầy nước chè Tàu mà tôi chỉ cầm lên, đặt xuống. Cái chén ấy
    hầu như chưa được ông chủ tắm cho lần nào, dễ đến mấy tháng nay…
    - Kìa, mời ông xơi nước kẻo nguội.
    Câu mời thứ hai này chẳng đủ phá nổi cái im lặng rất khó chịu, vì ngoài
    sự chào hỏi ra, chúng tôi chẳng còn biết nói với nhau chuyện gì. Rõ ngộ!

    Tôi sở dĩ gặp chuyện này là vì đã nể lời ông ấm B… khi ông nhờ tôi đi
    hộ vệ đòn Vân Nam cho đàn em của ông, tại phố Hàng Giò.
    Độc giả chắc còn nhớ đến người trẻ tuổi ăn mặc ra phái bồi bếp đến toà
    nhà ở phố Hàng Cá xin “quân sư” phái cho một người cản, mới trưa hôm
    nay người ấy định bắt mòng trong một canh xì bằng lối đánh giác, nhưng vì
    mòng của anh ta chưa đến nỗi quých lắm, đã biết cả lối giác mùi lẫn giác
    bóng nên anh ta mới phải cầu cứu đến cái đòn Vân Nam là kế cuối cùng.
    Dưới quyền ông ấm B… không còn một tay sai nào nghỉ việc vào ngày
    30 tháng ấy. Anh Ba Mỹ Ký đã được phái đi đánh ở phố Hàng Kèn, ông
    quân sư mới phải cho phép đàn em hãy còn “non tay” của ông giở đến ngón
    đòn hiểm độc hơn cả. Thiếu người ngồi cản nhưng may lại vớ được chúng
    tôi sẵn đấy, sau khi ông Cả Ủn đi rồi, ông ấm bèn tiện việc, ngỏ ý tức khắc
    muốn nhờ một người, hoặc tôi hoặc anh Vân. Anh Vân vì có buổi hẹn với
    mẻng của anh đúng 6 giờ chiều hôm ấy, đã từ chối, tôi mới phải nhận lời. Vì
    một sự tình cờ, bắt đầu từ ngày hôm nay, tôi đã thành một tay thợ tập sự
    trong một xưởng máy của nền “kĩ nghệ bạc bịp”!
    Xin thuật lại những câu hỏi, đáp, dặn bảo nó đã ngẫu nhiên khiến ông ấm
    B… vô tình giảng ngay cho tôi bài học thứ nhất, quên hẳn nền nếp của pho
    “Bịp Kinh”, chưa kịp: Dạy rằng con lạy mẹ đây mà đã vội Này con thuộc lấy
    làm lòng…
    - Thế có thật là ông biết đánh xì không?
    - Nếu không thì đời nào nhận lời giúp cụ.
    - Thế thì may lắm, ông đi hộ vệ hắn giúp tôi là tôi được vững tâm rồi.
    Trông ông có vẻ thực thà và sang trọng thế này, không còn ai dám ngờ vực
    gì nữa. Ông sẽ đi với nhà cậu đến xin người cản lúc nãy, tên hắn là Vũ, để
    hắn đánh đòn Vân Nam. Nguyên con mòng kia đã biết cái lối giác mất rồi thì
    ta phải đánh đến cái “miếng ngoại quốc” cho nó mất đỡ… Đánh giác có
    nghĩa là đánh tráo bài có dấu. Còn đánh đòn Vân Nam là đánh tráo bài. Nói
    thế ông đừng tưởng là lại tráo một cỗ bài có dấu sẵn khác vào bàn đâu. Vũ
    hắn sẽ có một vài cỗ bài đã xếp sẵn cho thành nước để trong túi, không có
    một tí ti dấu vết gì cả. Ngồi vào cuộc, ông nên nghe hắn đưa mắt bảo nên
    ngồi đâu để cản trở cho dễ, cái đó còn tuỳ… Mới vào đầu hãy cứ đánh siệng,
    nghĩa là đánh thật thà đã. Ông rất nên để ý vào lúc hắn khịt mũi hoặc uống
    ngụm nước súc miệng là lúc sắp đánh tr...
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML