CA KHÚC HÀNH KHÚC NGƯỜI LÁI ĐÒ

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z4999043462983_2be1d887d99d54bb6aa1f2b7ee9bc046.jpg Z4900493151502_f26fdb80fb60695ce1f9714d622cdf91.jpg

    BÁC HỒ VỚI GIÁO DỤC

    CHA MẸ THÔNG THÁI

    web-share" allowfullscreen>

    LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3

    CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tiếng cười bác Ba Phi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:16' 10-03-2024
    Dung lượng: 825.1 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Tiếng cười Bác Ba Phi
    Tác giả: Bác Ba Phi
    Thực hiện ebook: hanhdb
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    Bác Ba Phi
    Con Trăn Rồng
    Heo Đi Cày
    Cá Trê Lung Tràm
    Ếch Đờn vọng Cổ
    Rắn Hổ Mây Tát Cá
    Bắt Cá kèo
    Lúa Nở
    Bác Ba Phi Làm Thầy Bói
    Rùa U Minh
    Chài Cá Chốt
    Khỉ Đi Phát Cỏ Ruộng
    Sọ Đầu Cá Trê
    Bắt Rắn Hổ
    Sợi Dây Thần Kỳ
    Gác Kèo Mật Ong
    Săn heo - Cọp xây lúa - Cây tràm và con nai
    Cái tĩn Nam Vang lẽ bạn
    Cây mận biết đi
    Tôm U Minh
    Chim chuột ở U Minh
    Ôm cổ rắn
    Nai trầm thủy
    Thu hoạch lưỡi nai
    Trứng rồng ăn xảm xịt mà hôi mùi tro
    Ven rừng U Minh thuở trước
    Căn bệnh da cổ của tui
    Cách bắt kỳ đà chết
    Con chó săn dũng cảm
    Mô đất biết đi
    Chiếc tàu rùa
    Cách bắt kỳ đà sống
    Chém trực thăng
    Phá luật giao thông
    Vỏ quýt dầy, móng tay nhọn
    Thổi tù và gọi ba khía
    Trăn đánh giặc
    Khỉ nhận giấy khen

    Mê đá gà
    Hỗn chiến với cá lóc
    Con cua chúa
    Tre U Minh
    Xẻ heo rừng

    Bác Ba Phi

    Bác Ba Phi là một nhân vật trong văn học dân gian. Ông là nhân vật chính
    trong những câu chuyện kể về cuộc sống sinh hoạt thường ngày nhưng được
    cường điệu quá đáng (như rắn tát cá, chọi đá làm máy bay rơi, leo cây ớt té
    gãy chân…) và được trình bày một cách tự nhiên khiến người nghe hoàn
    toàn bất ngờ và bật cười. Ông là nhân vật cận đại nhất trong lịch sử kho tàng
    truyện trạng (nói dóc) của văn học Việt Nam.
    Nguyên mẫu cuộc đời
    Nhân vật nguyên mẫu của Bác Ba Phi là nghệ nhân Nguyễn Long Phi (18841964). Ông vốn là một nông dân tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, vốn cếu
    kể chuyện rất phong phú và đặc sắc, được nhiều người ưa thích.
    Ông sinh năm 1884 tại tỉnh Đồng Tháp, do gia đình quá nghèo nên từ nhỏ
    ông phải đi cày thuê để nuôi tám người em nhỏ. Khi 15 tuổi, mẹ ông qua đời,
    ông trở thành một lao động chính trong gia đình. Tuy cuộc sống cơ cực, ban
    ngày phải đi khẩn hoang, cày cuốc ruộng vườn, nhưng đến ban đêm, ông
    thường tham gia tụ họp đờn ca, và được bà con trong xóm mê tiếng ca và nể
    trọng tính tình vui vẻ, bộc trực, khẳng khái, đặc biệt là những câu chuyện kể
    và cách kể truyện lôi cuốn người nghe của ông.

    Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế – một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe,
    ông được Hương quản Tế hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải làm
    công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó, nên sau ba năm thì ông
    cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người
    con rể này và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với sự
    cần cù sẵn có, ông đã ra sức khai khẩn phần đất được chia thành đồng ruộng
    cò bay thẳng cánh.
    Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã đứng
    ra cưới vợ hai cho chồng. Bà này sinh được một người con trai là Nguyễn Tứ
    Hải. Không rõ vì lý do gì mà khi Nguyễn Tứ Hải mới ba tuổi, bà đã gửi con
    cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời. Ông Nguyễn Tứ Hải về
    sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một người con trai – cháu
    đích tôn của bác Ba Phi – tên là Nguyễn Quốc Trị. Trong những câu chuyện
    của bác Ba Phi thì đây chính là nhân vật thằng Đậu nổi tiếng. Và cũng có
    thành ngữ “Tệ như vợ (thằng) Đậu” được dùng để chỉ những người vụng về.
    Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân tộc Khmer.
    Bà sinh được hai đứa con gái.
    Bác Ba Phi qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1964 tại rừng U Minh Hạ, nay là ấp
    Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Phần mộ
    của ông được đặt giữa hai ngôi mộ của bà Ba Lữ và bà Chăm tại ấp Đường
    Ranh, xã Khánh Hải nằm ở một góc rừng U Minh Hạ.
    Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến du
    lịch văn hóa của tỉnh Cà Mau.
    Những nét đặc sắc văn học
    Bác Ba Phi thuộc lớp hậu duệ của những tiền nhân đi khai mở đất rừng U
    Minh. Cả quãng đời, mà đặc biệt là thời tuổi trẻ của bác Ba Phi, là quá trình
    khai phá đất rừng U Minh nguyên sinh, vốn rất hào phóng mà cũng lắm khắc
    nghiệt. Với tihần khai phá, tính lạc quan yêu đời, thế giới quan của ông hiện
    ra thật sinh động và đáng yêu.
    Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe
    trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba
    Phi, đồng thời nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp người đi mở đất, tính
    cách đặc trưng Nam Bộ, lòng yêu thương thiên nhiên và con người.
    Cho đến tận ngày ông qua đời, không có một văn bản nào chính thức có ghi

    chép lại những câu chuyện do ông kể, kể cả người trong thân tộc ông. Những
    câu chuyện kể của bác Ba Phi là những câu chuyện truyền miệng. Tuy nhiên,
    nó cũng đầy đủ hình thức cấu trúc văn học: mở đề, thắt nút và kết thúc. Một
    mặt, nó cũng hao hao một loại tiểu thuyết chương, hồi rút gọn, dù có đảo lộn
    trật tự thế nào cũng giữ được ý nghĩa và tính xuyên suốt của những câu
    chuyện kể độc lập.
    Những câu chuyện của bác Ba Phi, do tính chất “truyền miệng”, vì vậy
    thường bị “biên tập” hoặc “hiệu chỉnh” lại trong quá trình câu truyện “lưu
    lạc”. Thêm vào đó, cũng có không ít những câu chuyện do người khác sáng
    tác, nhưng vẫn lấy danh xưng bác Ba Phi.
    Theo: Wikipedia

    Con Trăn Rồng

    Mùa nước năm đó, có một đêm trời mưa bão làm đổ ổ quạ ngoài cây tràm.
    Lũ cò, diệc bị gió đánh rơi lướt khướt, rã cánh té đầy đường.
    Ở những lùm cây rậm, loài dơi, quạ đeo thành đùm bằng cái thùng thiếc, sát
    vào các nhánh cây. Rừng tràm U Minh đêm đó nổi sóng ì ùm không thua gì
    sóng biển. Vợ chồng con cái tui ngủ trên túp chòi có sàn gác, bị dông đẩy
    đưa tựa như ngồi xuồng nan trên biển.
    Độ nửa đêm, tui nghe bên dưới sàn gác có tiếng động gần những bụi chung
    quanh. Chuyện đó thì cũng chẳng có gì lạ. Thường những đêm mưa dông
    như vậy, lũ thú rừng bị ướt ổ, đâm ra quạu, cắn lộn với nhau kêu ầm lên.
    Đến sáng tỏ mặt, dượng Tư nó từ đàng nhà mang một cái giỏ trên vai đi
    lượm cò rớt, dài dài lại nhà tui. Tui thì còn ngồi co ro trên sàn gác, chưa chịu
    dậy. Đang ngồi bập bập điếu thuốc, tui bỗng nghe dượng Tư nó la bài hãi
    bên dưới:
    - Trời đất quỷ thần ơi! Cái con gì dị hợm kỳ đời, anh Ba ơi!
    Tui lật đật vớ cây mác thông, tuột xuống thang gác, chạy tới xem. Là tay thợ
    rừng đã từng sành sỏi, nhìn con vật đó tui cũng phải bí lù, không thể hiểu nổi

    là giống vật gì. Cái mình là mình con trăn, nhưng trăn sao đầu lại có sừng?
    Cái đầu là đầu con rồng, nhưng tại sao rồng gì lại không chân mà tiếng kêu
    nghe “bét bét”?
    Con vật bắt đầu bò đi. Mình nó láng ngời, suôn óng, đầu có sừng chà chôm,
    cổ nghển lên, miệng cứ kêu “bét bét”. Tui đặt tên đại cho nó là “con trăn
    rồng”. Nhưng dượng Tư nó không chịu, dượng bảo là con trăn gấm vừa nuốt
    một con nai, đầu nai còn ló ra ngoài nên nhìn thấy nó lạ lùng như vậy.
    Con trăn rồng ấy cứ bò tới, nghển cổ, quơ sừng kêu “bét bét”.

    Heo Đi Cày

    Nhà tui không nuôi bò, chỉ có một bầy heo với một bầy trâu. Đứng trong nhà
    dòm ra, thì chuồng trâu ở phía tay trái, chuồng heo ở phía tay mặt. Xứ này,
    vào mùa mưa là muỗi kêu như sáo thổi, trâu hay heo gì cũng phải căng mùng
    cho nó ngủ cả.
    Mùa cày năm đó, mưa chụp xuống hơi sớm, nên tui phải cày riết ba đám
    ruộng kẻo ngập nước mất. Cứ vậy, tôi cày xong buổi thì thả bung ba con trâu
    ra cho bà nhà làm gì thì làm. Đầu canh năm, bả kêu tui thức dậy mở chuồng,
    lùa trâu ra ruộng tiếp tục cày nữa. Tui chỉ để ý có một điều là lúc nằm ngủ
    phải quay đầu vô vách, để khi giật mình thức dậy đứng lên, đi ngay mở
    chuồng trâu phía tay trái rồi lùa đi.
    Trâu nhà tui có con đực pháo và con cái chim là cặp hay nhứt. Giống trâu
    “phồn” mạnh vô cùng, vai ngang, bụng thắt, mông to, đi bền hết kể. Một
    đêm, mới đầu canh năm là tui lùa trâu ra ruộng, gác ách, cày. Trời còn tối,
    nhìn hai con trâu bữa nay kéo cày, tui lấy làm lạ. Hồi lùa ra thì chúng chạy
    lúp xúp, đến chừng cày, chúng lại kéo đi vù vù, hăng hái vô cùng.
    Tui đánh trâu cày đến sáng. Khoảnh đất một mẫu tây đã được khoanh hơn
    bảy vòng nong. Nhưng mặt trời càng lên, cặp trâu càng đi chậm. Tui cứ cầm
    cày, mắt ngó xuống đường miệng la: “Vó vô pháo! Thá ra chim”, tay thì quất
    roi tới tới. Lạ đời! Chẳng những hai con trâu không chịu nghe ví thá gì, mà
    miệng cứ thở hồng hộc, bước đi lệt bệt đến nỗi muỗi mòng cắn vàng đít mà
    chúng cứ ngoáy ngoáy cái đuôi một khúc cụt ngủn, chớ không chịu thò ra
    quơ đập như mọi ngày.

    Cày thêm một lúc nữa, hai con lại nằm ì ra. Tui nổi giận đánh con bên này
    một roi thật mạnh, nó la “éc” một tiếng. Đánh con bên kia một roi, nó cũng
    la “éc éc” như vậy. Đến chừng nhìn kỹ lại, tui mới bật ngửa ra, hồi hôm, vì
    vợ tui sửa cái chõng ngủ ngược đầu, trước khi đi ngủ, nên quên để ý.
    Đến chừng nghe bả kêu, tui mắt nhắm mắt mở bật dậy, tôi cứ đi ngay ra mà
    mở chuồng phía tay trái như mọi bữa. Ai ngờ, lại mở lộn nhằm chuồng heo.

    Cá Trê Lung Tràm

    Tui dẫn bày chó săn vô Lung Tràm định lùng thịt, cũng dạo mùa nước rọt
    này đây. Dưới kinh, cá quẫy ùn ụt, trên rừng chim chóc bay rần rần. Mình
    muốn kiếm bậy một con nai để làm đám kị cho bà già vợ, chớ loại cá, chim
    đó thường quá. Vùng Lung Tràm thuở đó còn thầy choại, dớn với cây tràm,
    đất trấp phập phếu, bởi vậy người ta mới kêu nó là Lung Tràm.
    Đã quyết đi vào khu vực có nai, nhưng đến mặt trời lên cao mấy cây sào, tui
    vẫn chưa hạ được một chú nào. Bị nhiều bạn săn quần tới lui hoài, nên “bể”
    hay “đổ” nhanh như gió. Mỗi khi nghe chó vừa đánh hơi sủa lên, tức thì
    nghe một tiếng “bét” là chỉ còn đứng mà ngó theo.
    Đến lúc mặt trời gần đứng bóng, người cùng chó đã mệt mỏi, tui mới rề lại
    một gốc cây tràm nghỉ mát. Chân bước từ từ, mắt cứ ngó dáo dác theo mấy
    con ong mật đang ăm bông trên đọt tràm, bất thần tui đạp lên mình một con
    nai chà đang nằm ngủ. Tui giật mình té ngửa, con nai cũng hoảng hồn nhảy
    dựng. Nó phóng một cái, đụng nhằm gốc cây to dội lại, té lên mình tui. Sẵn
    cây mác trên mình, tui vớ chân sau con nai. Khứa một nhát vào nhượng. Còn
    lại ba chân, con nai cố bươn chạy. Bầy chó thấy vậy, đuổi theo. Bị rượt ngột
    quá, con nai chạy giạt vào bìa rừng, phóng xuống Lung Tràm. Bầy chó chia
    làm hai, ven theo hai mé lung. Con nai lội qua bên này thì lũ chó bên này tấn
    công, hễ lội qua bên kia thì lũ chó bên kia ví ép. Nó lúng túng, lội qua lội lại
    mãi… Tui giục c vây chặt và ép lần cho con nai lội về hướng nhà mình. Ra
    tới ngã ba lung, thấy thằng em tui đằng kia chống xuồng lại. Tui kêu tiếp.

    Thằng em tui nhấn sào chống vọt tới bên con nai. Bây giờ con nai còn cố lội
    lờ đờ, cái đầu trên mặt nước. Thằng em tui với nắm lấy cái chà gạt con nai,
    lôi mạnh lên xuồng. Nhưng trời ơi! Con nai chỉ có cái chùm ruột lòng thòng
    dính ở phía dưới. Té ra nãy giờ nó bị cá trê dưới Lung Tràm bu theo rỉa sạch
    trọn thịt thà, xương xóc. Bầy cá cứ vây lấy con nai mà rỉa thịt làm cho con
    nai cứ trồi lui trồi tới, vậy mà tui cứ tưởng con nai còn lội. Thằng em tui kéo
    luôn lên xuồng cùng với xác còn lại của con nai cả tạ cá trê. Con nào con nấy
    bằng cườm tay người lớn.

    Ếch Đờn vọng Cổ

    Tui có bầy vịt, hễ bum búp lông cánh là lần lượt bị mất sạch trơn. Tức quá,
    rình mò mấy bữa tui mới biết là bị ếch ăn. Chỗ đuôi đìa, dưới gốc bụi tre có
    một hang ếch lớn quá cỡ.
    “Ăn thịt vịt tao thì mày phải đền mạng” – Nghĩ vậy, tui mới lấy sợi dây thép
    quai thùng dầu uốn thành một lưỡi câu, lấy sáu sợi dây chì bệnh lại làm nhợ,
    một đầu buộc con vịt xiêm vừa ra ràng, một đầu buộc vào bụi tre.
    Mặt trời lên độ một con sào. Tôi ngồi rình, thấy một con ếch bà từ trong góc
    tre lù lù lội ra. Con ếch thấy con vịt, men lại ngửi ngửi rồi lắc đầu, bỏ đi.
    Biết nó chê con vịt này còn hôi lông nên chưa chịu ăn. Bữa sau, tui đổi một
    con vịt mái đang đẻ, mập sà đít. Hừng sáng là tui cũng đến chỗ hôm qua
    ngồi rình.
    Cũng đến lúc mặt trời lên độ một con sào, con ếch bà đó lại cũng vạch bèo
    lội ra. Trông thấy con vịt ta mập ú, nó ngó dáo dác, mặt mày hớn hở, gật gật
    đầu mấy cái. Con ếch khỏa bèo, hớp nước súc miệng sào sạo, phun ra cái
    phèo rồi chồm tới bên con vịt. Nó nhướng mắt, táp bụp rồi nhai rau ráu, nuốt
    một cái ực. Như vướng phải lưỡi câu, nó nhợn trở ra. Thấy tình thế không
    xong, tui vụt đứng dậy la “ếch” một tiếng. Con ếch giật mình nhào ngang, bị
    lưỡi câu xóc hàm hạ, nó giãy đùng đùng sáu sợi nhợ cây thẳng băng. Nó lúc
    la lúc lắc cái đầu, sáu sợi dây chì rẽ quạt ra. Hai tay nó quày lia lịa. Sáu sợi
    dây bật ra những tiếng kêu bỗng trầm “tằng tăng, tủng tẳng” khác nhau. Tui
    ngồi nghe. Sao có chỗ vô sang, ra hò mùi quá! Một hồi phát ngứa miệng, tui

    ứng thanh theo, ca bậy vài câu vọng cổ chơi

    Rắn Hổ Mây Tát Cá

    - Hồi xửa hồi xưa, khi mới tới đất này khai phá, rắn trong rừng U Minh con
    nào con nấy lớn lắm. Mới đầu, người ta kể, tui còn chưa tin. Nhưng rồi có
    một bữa tui cùng bả vô rừng, tính kiếm cái đìa nào lớn, nước cạn, tát bắt ít cá
    về ăn.
    - Tui với bả tát tới ven rừng, nghe như có tiếng ai đang tát nước từ xa vọng
    lại. Chả là trong rừng có một cái đìa bề ngang chừng năm thước, bề dài
    chừng hơn bốn mươi thước, tui đã nhắm chừng từ bữa hổm. Tiếc thiệt, bây
    giờ mới tới ven rừng đã có người tát rồi.
    - “Ai đó mà lẹ vậy!”. Tui nói bả vậy. Nhưng rồi cả hai vẫn lẹ làng đi tới.
    Đứng ở mé bờ đìa bên này, núp sau một thân cây tràm bự chảng, tui thấy
    một con rắn hổ mây ở mé đìa bên kia. Cái đuôi nó ngoéo một đầu, cái đầu nó
    ngoéo một bên, thân hình nó dẹp lại đu đưa.
    Thì ra nó đang tát nước cạn để bắt cá ăn. Tui bấm tay bả một cái đau điếng,
    ra hiệu đứng yên để coi con rắn hổ mây nó làm chi. Gần xế bóng mặt trời,
    cái đìa đã cạn, những con cá rô, cá trê đen thùi quẫy đành đạch trên bùn. Bả
    thích quá, kêu trời một tiếng.
    Thấy động, con rắn vội bỏ chạy vô rừng. Tui chỉ việc bảo bả về kêu bà con
    ấp xóm ra bắt mang về. Hỏng tin, mọi người hỏi bả thử coi!

    Bắt Cá kèo

    - Hồi xưa bác cũng đi bắt cá kèo nữa hả, bác Ba?
    Bác Ba đang cùng với mấy đứa cháu lối xóm ngồi chuyện trò từ trưa đến giờ
    dưới gốc bụi tre tàu trước nhà. Gió chướng thổi xạc xào cành lá. Ngồi thấy
    bác Ba có vẻ mỏi mệt, không muốn kể chuyện thêm nữTruyền cắc cớ, kiếm
    chuyện hỏi thêm.
    - Ừ! Cá kèo tao bắt dữ lắm. Có hôm lấy ghe mà chở – Bác Ba trả lời.
    - Thiệt vậy hả bác? Ủa mà hồi đó bác bắt cá kèo ở đâu vậy?
    Thằng Truyền lại hỏi, vẻ mặt coi bộ nghi ngờ, khó hiểu. Mấy đứa trẻ khác
    thì mở trừng mắt nhìn theo mấy ngón tay đang múa may như phù phép của
    bác.
    - Nè, coi tao bắt đây! Bác Ba đứng dậy trỏ một ngón tay xuống đất. Tụi con
    nên nhớ vùng biển Đá Bạc của mình hồi đó vô cho tới tận con kinh Lung
    Tràm này. Cá kèo lội đặc như bánh canh trong nồi. Nhưng ngày xưa mà, đâu
    có phương tiện gì nhiều để bắt cá kèo như bây giờ. Chủ yếu là bắt bằng tay
    thôi. Cũng không phải ai cũng bắt bằng tay giỏi như tao. Tụi con coi đây.
    Bác Ba xòe hai bàn tay giơ lên.

    - Đơn giản như vầy chứ mỗi lần tao thò tay xuống sông rồi giở tay lên là bắt
    được mười con, mỗi kẽ tay một con, nằm im không vẫy gì được. Cá kèo coi
    nó trơn lùi vậy chớ không con nào chạy tuột ra khỏi được tay tao đâu.
    Mấy đứa nhỏ ngồi nghe chợt thấm ý, bật cười, cái đầu tụi nó gục gặc. Chỉ
    riêng thằng Truyền không nói, cũng không cười. Nó ngồi yên, chỉ đưa hai
    bàn tay ra trước mặt, cái miệng nó lép nhép nói gì như đếm thầm. Vụt một
    cái nó đứng dậy bước tới, nắm tay áo bác Ba Phi lại, hỏi:
    - Bác mới vừa nói mỗi kẽ tay bác bắt một con. Hai bàn tay có tám kẽ tất cả,
    vậy làm sao bác bắt được mười con một lần?
    Thằng nhỏ bất ngờ hỏi “trẹo cẳng ngỗng”, bác Ba đớ người một lúc rồi đưa
    tay vỗ vỗ xuống đầu nó như thể nựng nịu. Bác xuống giọng:
    - Đúng thế. Thằng Truyền hỏi đúng. Thông thường làm gì bắt được một lúc
    mười con cá kèo như vậy. Nhưng vì tay tao bắt cá “dính” quá, nên có số cá
    kèo nịnh lội tới lội lui, chực sẵn bên ngoài, chờ tao thò bàn tay xuống mỗi
    lần như vậy, là chúng nó nhào vô hai con một lượt để “dính ké”. Nhờ vậy mà
    mỗi lần tao giơ tay lên thì được đến mười con!

    Lúa Nở


    Cấy xong một chục công lúa sa-mo trời cứ đổ mưa hoài, làm cho bác Ba Phi
    ngồi khoanh tay rầu rĩ. Bác cứ nhấp nha, nhấp nhổm, uống trà, đi ra hàng ba
    đứng treo tay nhìn những cơn mưa mờ mịt ruộng đồng, rồi trở vô ngồi vấn
    thuốc hút, uống trà. Thật là sống ở thời buổi nầy một khi bị tai nạn thiên
    nhiên giáng xuống thì sức người đành vô phương khả đảo. Đêm nằm trăn trở
    lắng nghe từng cơn mưa rơi lộp độp trên mái lá mà bác Ba cứ thở vắn than
    dài! Bác hay lặp đi lặp lại với bác gái cùng thằng Đậu một câu:
    - Từ hôm xuống nọc cấy đến nay tính đã… Ơi, sao mưa mãi là mưa! Cái
    điệu nầy chắc “bà Thủy cắt hộ tịch” mười công lúa sa-mo của mình rồi.
    Nhưng từ sau cái đêm than thở não nuột của bác Ba, dường như động lòng
    trời, sáng ra có mây ráng đỏ chen vào giữa buổi bình minh. Triệu chứng này
    báo hiệu cho một ngày quang đãng. Quả như vậy. Mặt trời ló dạng vàng óng
    như chiếc mâm thau được chùi thuốc tẩy, chiếu ra nhiều tia sáng kỳ diệu.
    Chim chìa vôi cất tiếng hót líu lo ngoài tàn cây xoài. Những con cúm núm lai
    gà tàu ở đầu bờ ruộng gù lên hai giọng: “ò ó o… ò, cúm núm, cúm!…” Và
    con bò lai nai nửa tháng trời bị thằng Đậu niệt miết trong chuồng cho ăn toàn
    những rơm khô, bây giờ thấy trời ấm áp, nghếch cái đầu có chà gạc lên, nhìn
    đám cỏ non bên ngoài bằng cặp mắt trong veo, thèm thuồng rồi cất tiếng

    rống như mừng rỡ: “Um bò! Bét, bét!”. Mặt trời càng lên cao, những tia
    nắng sớm càng soi óng ánh qua từng kẽ lá trong khu vườn cây tổng hợp của
    bác Ba Phi.
    - Nắng hồng tươi soi bóng các em đến trường…”
    Trong lúc bác Ba Phi lắc nước chiếc xuồng ba lá sau mương, để chuẩn bị đi
    thăm ruộng, thằng Đậu trong nhà cứ ca hát và nhảy nhót tựa con chim trao
    trảo.
    - Đậu à! Sửa soạn đi thăm ruộng với ông nội!
    Nghe ông nội kêu, thằng Đậu vội lấy chiếc nón vải màu xanh cũ mèm có
    một lỗ rách trên chóp đội lên đầu và xách cây sào nạng chạy ra. Đến bên
    xuồng. Thằng Đậu bị bác Ba bảo quay trở lại:
    - Bỏ hờ theo một chiếc liềm hái, coi có cỏ rác gì mọc theo bờ mà cắt vén cho
    l
    Sau đó, ông lái, cháu mũi chống xuồng qua mấy mương liếp, ra tới mé
    ruộng. Qua đợt mưa chum, nước đồng lênh láng như biển. Từng đợt sóng
    của ngọn gió nồm bỏ vòi trắng đã bổ xồng xộc vào mạn xuồng. Ông cháu
    bác Ba lái xuồng thả trôi theo sóng. Xuồng chạy te te trên mặt đồng, hướng
    mũi về phía đám lúa sa-mo. Trên mặt đồng, những nơi cỏ bắp hoặc cỏ chỉ
    đều bị nước ngập láng te. Những đám sậy, đám điên điển bị cỏ mục của
    giồng cào trôi đùn, chất lên nhau, mang theo hàng hà sa số là gián nước và
    kiến riệng. Sóng đánh sì soạp vào be xuồng. Gió thổi rì rào qua đám sậy. Gió
    đùa lất phất hàm râu lưa thưa dưới cằm bác Ba. Gió vuốt mơn man qua món
    tóc trán thòi ra chỗ nón rách trên đầu thằng Đậu. Cảnh thôn quê dịu dàng
    làm dễ chịu lòng người. Gió êm đềm mát mẻ tâm hồn người ta đến nhớ
    nhung mông lung vời vợi! Hai ông cháu bác Ba cứ thả xuồng và thả hồn
    mình trôi vào mơ mộng.
    Họ cứ mê mải mỗi người tham gia vào “câu lạc bộ” của quá khứ, của tương
    lai riêng biệt, không ai lái xuồng kềm cho nó đi ngay ngắn. Xuồng trôi tấp
    vào một con giồng cỏ cạnh miếng ruộng lúa sa-mo mà họ định đến thăm tự
    hồi nào. Khi nhìn thấy một khu vực mặt đồng nước sôi tim mẳn tựa có một
    bầy cá ròng ròng khổng lồ đang ăn mống, họ mới giật mình. Bác Ba gò
    xuồng lại, trở ngược ngọn sào xốc xuống đất, cột xuồng. Mở gói thuốc bánh
    giồng ra quấn một điếu lớn bằng ngón tay cái, ngồi bập khói, đôi mắt cứ hấp
    háy như còn tiếc ngẩn cơn mơ, bác Ba rầm rì phàn nàn:

    - Nước ngập láng te thế này, ba cái lúa “đi ông Yẹm” hết rồi, thật toi công.
    Nhìn mặt nước sôi tim mẳn, bác Ba càng chua xót trong lòng. Nhưng dù sao
    bác cũng thăm dò xem đám lúa còn mất thế nào. Bác Ba uể oải ném điếu
    thuốc đánh xèo và chậm rãi xắn quần lội xuống ruộng. Điều trước hết làm
    cho bác Ba ngạc nhiên là khi hai chân vừa chạm tới đất dường như dẫm phải
    những bụi cỏ tươi còn đang căng sức sống ngầm mãnh liệt. Bác Ba chựng
    người, kêu lên một tiếng nhìn thằng Đậu rồi khom người dùng tay sờ thử.
    Lại một ngạc nhiên kế tiếp: tai bác nghe rõ ràng những tiếng rào rào dường
    như tằm đang ăn lá dâu dưới lòng nước. Kinh ngạc quá, bác Ba mò quýnh
    quáng trên mặt đất để tìm xem chuyện gì. Chốc sau, khi mọi việc được xác
    định rõ ràng, bác Ba ngẩng người lên thở ra một hơi dài, và vui vẻ báo tin
    với thằng Đậu:
    - Lúa vẫn sống! Lúa đang nở ngầm trong dòng nước. Mầy nghe tiếng lúa vặn
    mình nở rào rào đó không?
    Suốt mười ba năm sống trên thế gian nầy, thằng Đậu chưa hề nghe thấy điều
    kỳ quặc vậy. Nó liền nhảy ùm xuống đồng nước mò th để kiểm nghiệm lời
    nói của ông nội.
    Tất bật thế nào, khi phóng xuống ruộng, ống quần của nó vướng vào mũi
    xuồng, giật một cái đập đầu vào tấm lô, mắt đổ lửa:
    - Trời đất ơi!
    Nghe tiếng kêu thảm thiết của đứa cháu, bác Ba Phi vội chồm đến đỡ nó dậy.
    Bác vuốt ve, xuýt xoa cho nó. Cái quần vải tám của thằng Đậu tét dọc từ ống
    lên tới háng. Một tay túm ống quần, một tay thằng Đậu mò tìm thử xem cái
    chuyện lúa nở ngầm ông nội vừa nói. Quả thật! Những bụi lúa đang vặn
    mình lên đâm ngạnh trê, xé bẹ nở ra lách tách nghe tựa hàng ngàn con tép
    rộn rã búng nhảy. Thằng Đậu mê quá, nắm gọn vào tay một bụi nghe thử sức
    nở của lúa. Lúa cứ xạo xự vươn mình chỉ chốc sau đó là đầy cứng một nắm
    tay.
    - Làm sao hở ông nội? Cứ để như vầy lúa sẽ nở đặc gật, tới chừng trổ bị lốp
    hết, không có một hột nhổ râu cho mà xem.
    Bác Ba đứng ngẫm nghĩ một hồi rồi ra lệnh cho thằng Đậu:
    - Phải đi cắt tranh về bó từng bụi lúa lại để hạn chế sức nở của nó.

    Ông cháu bác Ba chống xuồng như bay lên vạt đất gò Kinh Ngang cắt chở
    về một xuồng cọng tranh. Từ đó cho tới chiều tối, hai người mò mẫm bó lại
    từng bụi lúa đang có tốc độ nở ngầm dưới nước. Đêm ấy về nhà, bác Ba Phi
    chống xuồng lên đầu trên, xóm dưới kêu bà con đi “bó lúa” với ông cháu bác
    vào ngày mai.
    Sáng hôm sau già, trẻ, bé, lớn, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, trẻ con cả
    xóm rầm rộ chống xuồng ra ruộng bác Ba Phi để “bó lúa” vần công. Dĩ
    nhiên xuồng của ông cháu bác Ba chống tiên phuông. Lúc dắt đoàn đi gần
    tới miếng ruộng lúa, chợt trông thấy một hiện tượng kỳ lạ, vội hô bà con
    dừng lại. Những chiếc xuồng ba lá khẳm mẹp người ta dồn lại thành cục,
    tiếng sào khua rột rạt, tiếng người xôn xao bàn tán rì rầm nổi lên. Thấy hàng
    ngũ nhốn nháo mất trật tự, bác Ba hô lớn cho họ yên tâm:
    - Cũng chẳng phải có chuyện gì lạ lùng lắm đâu. Dường như có kẻ nào đem
    lưới đại quàng lại giăng trên miếng ruộng của tôi. Bà con trông kìa, những
    hàng phao lưới trắng trắng, đen đen đang nổi bập bềnh đầy mặt ruộng đó.
    Tất cả nhìn theo tay bác Ba Phi. Chỗ miếng ruộng, ngay khu vực bác Ba với
    thằng Đậu “bó lúa” hôm qua, có hàng dọc xâu chuỗi phao lưới của ai đang
    giăng, phao lưới màu đen có, xám có cái nào cũng bự bằng trái dừa khô. Tất
    cả bà con nổi giận thét lên:
    - Lưới quàng sao không giăng ngoài khơi mà bắt cá đao, cá dống lại đem
    giăng bừa lên trên lúa ngập nước của người ta?
    Thét xong, bà con ào ào tới, không cần phải làm thông lệ là ăn trầu, hút
    thuốc trước khi bước xuống ruộng. Thằng Đậu đứng trước mũi, bác Ba Phi
    chống sau lái của chiếc xuồng đi đầu. Xuồng vượt lên ao ào, mũi lòa nước
    trắng dã. Bỗng nhiên thằng Đậu kêu lên:
    - Coi kìa! Mỗi chiếc phao sao lại có hai chân chòi đạp sáng nước?
    Bác Ba vội vã chống sào nạng nhún liền mấy cái, chiếc xuồng vọt tới nơi.
    Bác đã biết rõ những cái thứ trước mặt là giống gì rồi, vội thét lên:
    - Xúm lại bắt chim bà con ơi!
    Nghe bác Ba Phi kêu, tất cả xuồng ùn ùn chống tới, vây quanh khoảnh ruộng
    có những hàng “phao lưới” nổi. Khi nhìn tận mắt họ mới vỗ tay rần rần, cười
    nói vang dậy trên đồng nước:

    - Thật là chuyện lạ trên đời, thế gian hi hữu!
    Chim ơi là chim! Chàng bè, le le, giăng sen, cồng cộc không rõ can cớ gì mà
    chúng cứ chổng mông, cắm đầu xuống nước, giơ hai chân chỏi ngược lên
    trời? Bà con nhảy ùm xuống ruộng mò thử xem. Rốt ra họ mới hiểu rõ
    nguyên nhân: Chim đang mắc kẹt đầu trong giữa bụi lúa. Đây là những loài
    chim ăn đêm, mò nước, bị lúa nở ra, kẹp mắc đầu vào giữa kéo không lên
    được. Bà con xúm lại “nhổ” chim lên, dùng dây tranh bó lúa trói chúng lại,
    mỗi xuồng bỏ đầy một khoang.

    Bác Ba Phi Làm Thầy Bói


    Mấy hôm nay, Hai Lúa cứ nghe thằng Út của mình nói mãi về ông thầy bói
    hổng biết từ đâu tới coi tướng, coi tay hay hết biết luôn. Từ khi ông ta tới, lối
    xóm coi đông nghẹt.
    - Ba biết hông. – Thằng Út huyên thuyên – Ngay cả ông hội đồng dữ tợn
    thấy mà vẫn phải sợ ổng. Cả tuần nay, ông ra rước ổng về cơm nước, trà
    rượu hẳn hoi với tiền công lên tới hàng trăm đồng chỉ để coi tiền vận, hậu
    vận gia đình ông ta. Ổng nói ông hội có nhiều vợ lẽ, con rơi nên gia đạo bất
    an, nếu không tích đức như đem của cải chia sớt cho người nghèo, giảm thuế
    ruộng, thuế đất thì sau này cuộc đời sẽ khốn khổ, hổng chừng lại bị tù đày.
    - Hừ! Nói vậy tao nói cũng được. – Hai Lúa xua tay.
    Thằng Út cãi lại:
    - Tại ba không tin thôi, chứ còn nhiều chuyện lạ nữa kìa. Như chuyện chú
    Tư, ổng coi tay, coi tướng một lát rồi nói: Bàn tay chú có tài lộc đang chờ,
    nhưng ngặt tuổi kỵ màu đỏ, màu đen. Nếu chú giải được nạn đó thì nên đi
    qua Rạch Ráng xin lỗi bà nhạc gia rồi rước vợ về cho yên gia đạo. Mượn
    luôn vài chục công đất đi mua lúa cày cấy liền tay cho tới Tết thì trong nhà
    chú lúa không dưới năm trăm giạ, gia đạo yên, tiền tài vô như nước. Còn
    việc kỵ màu đen, nếu bỏ đá gà, bài bạc, đánh đề thì xong tuốt.

    Nghe thằng Út kể tới đó, Hai Lúa đòi đi xem mặt lão thầy bói. Nhưng khi
    vừa thấy Hai Lúa, ông thầy bói đã tái mặt. Còn Hai Lúa, nhìn lão thầy bói
    thấy râu giả, kiếng che mặt và gương mặt hao hao giống ai đó, Hai Lúa ra về
    thì thầy bói cũng nhổ neo đi mất.
    Mấy năm sau, trong một lần có “rượu vào lời ra”, Hai Lúa chợt hỏi:
    - Năm đó tại sao chú bỏ trốn?
    - Không trốn anh lật tẩy à? – Ba Phi tao cười khà – Chuyện tui làm thầy bói
    thiệt tình tui có muốn đâu. Cũng bởi, tui thấy bà con mình mê bói toán, nên
    tui mới làm vậy với ý định hạn chế phần nào tệ nạn xã hội ở xứ mình thôi
    mà. Anh Hai nhớ đi, tui xủ quẻ cho họ mà tui lấy đồng nào không? Lúc tui
    gặp anh, tui giận lắm vì bị anh phá ngang xương, nhưng nghĩ lại mới thấy
    chuyện anh tới là đúng lúc, chớ để tui hết bài, nói ẩu không chừng hậu quả
    ngược lại ý muốn của mình thì chết cha.

    Rùa U Minh


    “Ai làm gì mà khói lên trong hậu đất vậy cà?” – Đứng sau hè, thấy khói lên
    trong hậu đất, tui lẩm bẩm như vậy rồi bỏ vô nhà. Mới bưng chén trà lên hớp
    một ngụm, thì thằng Sáu hào hển chạy kêu:
    - Bác Ba ơi! Ai đốt cháy Lung Tràm, rùa qua hậu đất bác lểnh nghểnh. Hai
    bác cháu mình ra ví bắt ít con, chiều rang muối nhậu lai rai chơi.
    Nghe nói nhậu rùa rang muối, tui chép nước miếng, lật đật với cái bao bố rồi
    dông theo thằng Sáu liền. Hai bác cháu tui vừa ra khỏi mé vườn thì thấy từ
    phía Lung Tràm rùa bò qua thật nhanh. Chúng còn ở ngoài kia, nhưng dường
    như thấy tụi tui nên nghểnh cổ nhìn. Đi tới chút nữa, bỗng bầy rùa ấy chụm
    đầu ngay vào chúng tui mà khẹt lửa. Liền đó, mấy trái đạn ĐK.57 nổ ầm ầm
    trên đầu. Hai bác cháu tui phóng xuống mương, bươn chạy một bữa muốn
    phờ râu. Biết sao không? Xe lội nước chớ rùa gì. Sau đó không lâu, cũng
    thấy lửa cháy ven lung như vậy, cũng thằng Sáu hào hển qua, kêu:
    - Bác Ba ơi! Xe lội nước đốt sậy, càn qua tới hậu đất rồi kìa. Chạy trốn mau
    đi! Hai bác cháu tui chạy một mạch qua tới Lung Bùn, chém vè cho tới
    chiều. Về chưa tới nhà, thì thằng Ba Lùn chặn lại rủ vô nhà nhậu thịt rùa
    rang luối. Nó bảo là hồi trưa nó đốt giang sậy ven Lung Tràm, bắt được vài
    chục con rùa. Nó còn nói có mấy con bò qua hậu đất tui, bắt không được.
    Nghe nói mà tui tiếc hùi hụi. Hồi trưa thấy bầy rùa bò đó mà tưởng đâu xe
    lội nước, bỏ chạy trốn. Thiệt tức!

    Lại một lần sau nữa thấy lửa cháy giang sậy, cũng thằng Sáu chạy qua kêu:
    - Bác Ba ơi! Lần này đón bắt rùa thiệt đó!
    Hai bác cháu tui cảnh giác, đứng núp trong bờ chuối nhìn ra. Tui thấy từ xa
    những chấm đen đang động đậy, nhích dần về phía mình. Thằng Sáu dợm
    chạy ra bắt.Tui nắm tay nó, kéo lại:
    - Chết mẹ! Xe lội nước!
    Xe lội nước thiệt. Chúng căng thành hàng ngang chạy ngang qua. Hai bác
    cháu tui chạy một mạch qua Lung Bùn, chém vè vô đám nga. Hai đứa chia
    nhau hai chỗ. Trốn trong con lung này đầy sình lầy, xe lội nước khó lòng mà
    chạy vô được.
    Tui nằm chờ co ro trong một lùm nga, nghe tiếng xe chạy rù rù êm tai làm
    cơn buồn ngủ kéo ghị sụp mí mắt xuống. Trong mơ mơ màng màng, tui nghe
    xa xa có tiếng lửa cháy, sậy nổ rốp rốp, gần gần có tiếng rùa bò qua sột soạt.
    Trước mắt tui, chập chờn hình ảnh những còn rùa vừa bò ngang vừa ngóng
    cổ lên như nòng súng ĐK trên mui xe lội nước. Lại tốp rùa phía sau bò tới
    nữa, tới nữa. Rùa nhả lửa, khạc đạn ầm ầm, ì ì… Có một con bò đến bên
    chân tui, thở phì phò, phì phò… Tui cứ nằm im, nói thầm trong bụng: Kệ cha
    mày! Đừng gạt tao chạy ra bắt để gặp xe lội nước nữa. Nhưng con rùa đó
    thật kỳ cục, cứ nhắm chân tui mà bò lên, mà thở phì phò nóng hổi. Hơi thở
    của nó hôi xăng tanh rình. Người ta nói không thèm bắt nó rồi mà cứ ủi ủi
    vào chân mãi. Tui nổi xung, tống cho nó một đạp thật mạnh. Con rùa văng
    bổng lên khỏi đọt nga, rớt ngửa ra giữa lung bùn một cái ùm, nước văng
    trắng dã. Tui giựt mình tỉnh dậy, vì bàn chân tui đau điếng. Đang ngồi xoa
    bóp, bỗng nghe ai đó bò xột xọt lại gần. Thằng Sáu! Nó đến sát bên tai tui,
    thì thào:
    - Chết rồi bác Ba ơi! Tính sao bây giờ? Có một chiếc xe lội nước đang bò vô
    chỗ này, bỗng nhiên nó văng bắn, lộn nhào ra giữa lung. Nó còn nằm ngửa
    bơi bơi như hai sợi dây xích lên trời như hai con cuốn chiếu lật ngược vậy
    đó.

    Chài Cá Chốt


    Bữa nọ, bác Ba gái bây bả thèm mắm tép, vì thế bả kêu tao đi chiều về mần
    ít nắm, sẵn gởi cho Hai Lúa một mớ nhậu chơi.
    Làm theo lời bả, hai ông cháu tao chống xuồng ra sông cái, rà tới rà lui một
    hồi, tao tấp xuồng vô bờ rồi quăng chài, cái chài tròn lủm thiệt là vừa mắt.
    Quăng xong, ông cháu tao ngồi chờ, nhưng lạ quá, cái chài không muốn
    chìm.
    Ngồi chờ đến tàn điếu thuốc, mà cái chài cứ nhồi lên, chìm xuống như cặp
    bè gặp sóng không bằng. Tức mình nên tao b...
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML