CA KHÚC HÀNH KHÚC NGƯỜI LÁI ĐÒ

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z4999043462983_2be1d887d99d54bb6aa1f2b7ee9bc046.jpg Z4900493151502_f26fdb80fb60695ce1f9714d622cdf91.jpg

    BÁC HỒ VỚI GIÁO DỤC

    CHA MẸ THÔNG THÁI

    web-share" allowfullscreen>

    LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN 26/3

    CHÀO MỪNG QUÝ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI TRANG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC BẠCH ĐẰNG - KINH MÔN - HẢI DƯƠNG

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Bộ luật dân sự

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:17' 09-03-2024
    Dung lượng: 1.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Ký bởi: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
    Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn
    Cơ quan: Văn phòng Chính phủ
    Thời gian ký: 06.01.2016 10:44:53 +07:00

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015
    QUỐC HỘI

    3

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Luật số: 91/2015/QH13

    BỘ LUẬT
    DÂN SỰ
    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
    Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự.
    Phần thứ nhất
    QUY ĐỊNH CHUNG
    Chương I
    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
    Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá
    nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân
    trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài
    sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).
    Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự
    1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận,
    tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
    2. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp
    cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
    hội, sức khỏe của cộng đồng.
    Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
    1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để
    phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
    2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của
    mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận
    không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện
    đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
    3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
    của mình một cách thiện chí, trung thực.
    4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm
    phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp
    của người khác.

    4

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc
    thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.
    Điều 4. Áp dụng Bộ luật dân sự
    1. Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự.
    2. Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể
    không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của
    Bộ luật này.
    3. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng
    vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng.
    4. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật này và điều ước
    quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề
    thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.
    Điều 5. Áp dụng tập quán
    1. Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ
    của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi
    lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi
    trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.
    2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có
    thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc
    cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
    Điều 6. Áp dụng tương tự pháp luật
    1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân
    sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập
    quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự
    tương tự.
    2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1
    Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3
    của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.
    Điều 7. Chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự
    1. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ
    gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt
    đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì
    mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất
    nước Việt Nam.
    2. Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của
    pháp luật được khuyến khích.

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    5

    Chương II
    XÁC LẬP, THỰC HIỆN VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ
    Điều 8. Căn cứ xác lập quyền dân sự
    Quyền dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:
    1. Hợp đồng.
    2. Hành vi pháp lý đơn phương.
    3. Quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của luật.
    4. Kết quả của lao động, sản xuất, kinh doanh; kết quả của hoạt động sáng tạo ra
    đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
    5. Chiếm hữu tài sản.
    6. Sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
    7. Bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
    8. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
    9. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
    Điều 9. Thực hiện quyền dân sự
    1. Cá nhân, pháp nhân thực hiện quyền dân sự theo ý chí của mình, không được
    trái với quy định tại Điều 3 và Điều 10 của Bộ luật này.
    2. Việc cá nhân, pháp nhân không thực hiện quyền dân sự của mình không
    phải là căn cứ làm chấm dứt quyền, trừ trường hợp luật có quy định khác.
    Điều 10. Giới hạn việc thực hiện quyền dân sự
    1. Cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt
    hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác
    trái pháp luật.
    2. Trường hợp cá nhân, pháp nhân không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều
    này thì Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác căn cứ vào tính chất, hậu quả của
    hành vi vi phạm mà có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền của họ,
    buộc bồi thường nếu gây thiệt hại và có thể áp dụng chế tài khác do luật quy định.
    Điều 11. Các phương thức bảo vệ quyền dân sự
    Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có
    quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu
    cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:
    1. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình.
    2. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.
    3. Buộc xin lỗi, cải chính công khai.
    4. Buộc thực hiện nghĩa vụ.

    6

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    5. Buộc bồi thường thiệt hại.
    6. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
    7. Yêu cầu khác theo quy định của luật.
    Điều 12. Tự bảo vệ quyền dân sự
    Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm
    đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
    dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
    Điều 13. Bồi thường thiệt hại
    Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ
    thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
    Điều 14. Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền
    1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền
    dân sự của cá nhân, pháp nhân.
    Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ
    quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài.
    Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường
    hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể
    được xem xét lại tại Tòa án.
    2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều
    luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật
    này được áp dụng.
    Điều 15. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người
    có thẩm quyền
    Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm
    quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức,
    người có thẩm quyền.
    Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được
    khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của
    Bộ luật này.
    Chương III
    CÁ NHÂN
    Mục 1
    NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ,
    NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
    Điều 16. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
    1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền
    dân sự và nghĩa vụ dân sự.

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    7

    2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.
    3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm
    dứt khi người đó chết.
    Điều 17. Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
    1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
    2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.
    3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
    Điều 18. Không hạn chế năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
    Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật
    này, luật khác có liên quan quy định khác.
    Điều 19. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
    Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của
    mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
    Điều 20. Người thành niên
    1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
    2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy
    định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.
    Điều 21. Người chưa thành niên
    1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
    2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp
    luật của người đó xác lập, thực hiện.
    3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao
    dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự
    phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
    4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực
    hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản
    phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại
    diện theo pháp luật đồng ý.
    Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự
    1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận
    thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
    hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là
    người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
    Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì
    theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc
    của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố
    mất năng lực hành vi dân sự.

    8

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại
    diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
    Điều 23. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
    1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả
    năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự
    thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ
    quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra
    quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
    hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
    2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm
    chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích
    liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết
    định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
    Điều 24. Hạn chế năng lực hành vi dân sự
    1. Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài
    sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ
    quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người
    bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
    Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực
    hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
    2. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị
    Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại
    diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc
    luật liên quan có quy định khác.
    3. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân
    sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan
    hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên
    bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
    Mục 2
    QUYỀN NHÂN THÂN
    Điều 25. Quyền nhân thân
    1. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền
    với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác
    có liên quan quy định khác.
    2. Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của
    người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn
    trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của
    người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo
    quyết định của Tòa án.

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    9

    Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của
    người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc
    con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được
    sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường
    hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
    Điều 26. Quyền có họ, tên
    1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một
    người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.
    2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa
    thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập
    quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ
    của mẹ đẻ.
    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận
    làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ
    nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi
    thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.
    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được
    nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu
    cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh
    cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.
    Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa
    trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang
    thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
    3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp
    pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy
    định tại Điều 3 của Bộ luật này.
    Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của
    Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.
    4. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình.
    5. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích
    hợp pháp của người khác.
    Điều 27. Quyền thay đổi họ
    1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc
    thay đổi họ trong trường hợp sau đây:
    a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;
    b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi
    hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;

    10

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu
    cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;
    d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác
    định cha, mẹ cho con;
    đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
    e) Thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia
    đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người
    nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi;
    g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;
    h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
    2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của
    người đó.
    3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
    dân sự được xác lập theo họ cũ.
    Điều 28. Quyền thay đổi tên
    1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc
    thay đổi tên trong trường hợp sau đây:
    a) Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh
    hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;
    b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc
    khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy
    lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;
    c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;
    d) Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
    đ) Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
    nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là
    công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi;
    e) Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính;
    g) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
    2. Việc thay đổi tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của
    người đó.
    3. Việc thay đổi tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
    dân sự được xác lập theo tên cũ.
    Điều 29. Quyền xác định, xác định lại dân tộc
    1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.
    2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ.
    Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được
    xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ;

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    11

    trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán;
    trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán
    của dân tộc ít người hơn.
    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận
    làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi
    theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân
    tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.
    Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được
    nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ
    sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng
    trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
    3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân
    tộc trong trường hợp sau đây:
    a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ,
    mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;
    b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi
    đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.
    4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám
    tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
    5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây
    chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.
    Điều 30. Quyền được khai sinh, khai tử
    1. Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh.
    2. Cá nhân chết phải được khai tử.
    3. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải
    được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không
    phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.
    4. Việc khai sinh, khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định.
    Điều 31. Quyền đối với quốc tịch
    1. Cá nhân có quyền có quốc tịch.
    2. Việc xác định, thay đổi, nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam do Luật quốc
    tịch Việt Nam quy định.
    3. Quyền của người không quốc tịch cư trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
    được bảo đảm theo luật.
    Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
    1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
    Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

    12

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù
    lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
    2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý
    của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:
    a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;
    b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội
    thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác
    mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
    3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình
    ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức,
    cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi
    thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.
    Điều 33. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe,
    thân thể
    1. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể,
    quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái
    luật.
    2. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người
    phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện
    cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám
    bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy
    định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
    3. Việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người; thực hiện kỹ
    thuật, phương pháp khám, chữa bệnh mới trên cơ thể người; thử nghiệm y học,
    dược học, khoa học hay bất cứ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người
    phải được sự đồng ý của người đó và phải được tổ chức có thẩm quyền thực hiện.
    Trường hợp người được thử nghiệm là người chưa thành niên, người mất
    năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
    hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên
    hoặc người giám hộ của người đó đồng ý; trường hợp có nguy cơ đe dọa đến
    tính mạng của bệnh nhân mà không chờ được ý kiến của những người nêu
    trên thì phải có quyết định của người có thẩm quyền của cơ sở khám bệnh,
    chữa bệnh.
    4. Việc khám nghiệm tử thi được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp
    sau đây:
    a) Có sự đồng ý của người đó trước khi chết;
    b) Có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên hoặc người giám hộ nếu
    không có ý kiến của người đó trước khi chết;

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    13

    c) Theo quyết định của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc của
    cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp luật quy định.
    Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
    1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp
    luật bảo vệ.
    2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến
    danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
    Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân
    chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những
    người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên
    quan có quy định khác.
    3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được
    đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính
    bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan,
    tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
    4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh
    dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
    bố thông tin đó là không đúng.
    5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì
    ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông
    tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.
    Điều 35. Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác
    1. Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến
    mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho
    người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
    2. Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh
    cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu
    khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y
    học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
    3. Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các
    điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép
    mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và luật khác có liên quan.
    Điều 36. Quyền xác định lại giới tính
    1. Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.
    Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới
    tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có
    sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.
    2. Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    14

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    3. Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký
    thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù
    hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác
    có liên quan.
    Điều 37. Chuyển đổi giới tính
    Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã
    chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của
    pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi
    theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
    Điều 38. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
    1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và
    được pháp luật bảo vệ.
    2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống
    riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử
    dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên
    gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
    3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi
    thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
    Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện
    tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực
    hiện trong trường hợp luật quy định.
    4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí
    mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác
    lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
    Điều 39. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình
    1. Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền
    xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các
    quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ
    giữa các thành viên gia đình.
    Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và
    nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.
    2. Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định
    của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan.
    Mục 3
    NƠI CƯ TRÚ
    Điều 40. Nơi cư trú của cá nhân
    1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    15

    2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại
    khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.
    3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc
    thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.
    Điều 41. Nơi cư trú của người chưa thành niên
    1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ
    có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của
    cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.
    2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ
    nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
    Điều 42. Nơi cư trú của người được giám hộ
    1. Nơi cư trú của người được giám hộ là nơi cư trú của người giám hộ.
    2. Người được giám hộ có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám
    hộ nếu được người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
    Điều 43. Nơi cư trú của vợ, chồng
    1. Nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thường xuyên chung sống.
    2. Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận.
    Điều 44. Nơi cư trú của quân nhân
    1. Nơi cư trú của quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự là nơi đơn vị của
    quân nhân đó đóng quân.
    2. Nơi cư trú của sĩ quan quân đội, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên
    chức quốc phòng là nơi đơn vị của người đó đóng quân, trừ trường hợp họ có nơi
    cư trú theo quy định tại khoản 1 Ðiều 40 của Bộ luật này.
    Điều 45. Nơi cư trú của người làm nghề lưu động
    Nơi cư trú của người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền, phương tiện hành
    nghề lưu động khác là nơi đăng ký tàu, thuyền, phương tiện đó, trừ trường hợp họ
    có nơi cư trú theo quy định tại khoản 1 Ðiều 40 của Bộ luật này.
    Mục 4
    GIÁM HỘ
    Điều 46. Giám hộ
    1. Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân
    dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của
    Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo
    vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
    dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là
    người được giám hộ).

    16

    CÔNG BÁO/Số 1243 + 1244/Ngày 28-12-2015

    2. Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
    vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của
    mình tại thời điểm yêu cầu.
    3. Việc giám hộ phải được đăng ký tại c...
     
    Gửi ý kiến

    Nhúng mã HTML